Hội nghị được tổ chức theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến, với sự tham dự của đại diện các bộ, ngành, địa phương, viện nghiên cứu, trường đại học và cộng đồng doanh nghiệp.
Làm rõ vì sao doanh nghiệp chưa mặn mà với kết quả nghiên cứu của viện, trường

Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng phát biểu tại Hội nghị.
Phát biểu khai mạc Hội nghị, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng nhấn mạnh, Đảng, Nhà nước dành sự quan tâm đặc biệt, ban hành nhiều chủ trương, cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy KH&CN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, xác định đây là những động lực tăng trưởng mới, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới.
Thời gian qua, thể chế, chính sách trong lĩnh vực này đã có những chuyển biến mạnh mẽ, từ quản lý bằng kiểm soát quy trình đầu vào sang quản lý kết quả, sản phẩm đầu ra và chấp nhận rủi ro; từ giao nhiệm vụ sang tổ chức thực hiện, đo lường kết quả, đánh giá tác động; từ quản lý hành chính sang kiến tạo hệ sinh thái, lấy doanh nghiệp làm trung tâm phát triển.
Theo Phó Thủ tướng, đến nay, nhiều cơ chế, chính sách mới đã được ban hành, về cơ bản hình thành khuôn khổ tương đối đầy đủ. Tuy nhiên, việc đưa chính sách vào cuộc sống còn chậm, nhất là trong nghiên cứu, phát triển KH&CN. Một trong những điểm nghẽn lớn là mối liên kết giữa Nhà nước, các cơ sở nghiên cứu với cộng đồng doanh nghiệp và thị trường chưa chặt chẽ, chưa thực chất.
Nhiều đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu chưa xuất phát từ yêu cầu thực tế của nền kinh tế, nhu cầu của doanh nghiệp và thị trường.
Phó Thủ tướng cho biết, giai đoạn 2021-2025, chỉ khoảng 12% nhiệm vụ KH&CN cấp quốc gia có sự tham gia của doanh nghiệp; ở địa phương, tỷ lệ này khoảng 11%. Mức độ doanh nghiệp tham gia hình thành quỹ KH&CN để tài trợ nghiên cứu cũng rất thấp, chỉ khoảng 6% trong năm 2023. Điều đó cho thấy sự tham gia của doanh nghiệp vào hoạt động nghiên cứu còn hạn chế, nhiều kết quả nghiên cứu chưa được ứng dụng và thương mại hóa.
Đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D) của doanh nghiệp Việt Nam cũng còn thấp, chỉ tương đương 0,3% GDP, trong khi tỷ lệ này tại Trung Quốc là 2,1% và Hàn Quốc là 4,2%.
Nhân lực nghiên cứu phân bổ chưa cân đối. Số nhà nghiên cứu có bằng tiến sĩ làm việc trong doanh nghiệp chỉ có 333 người, trong khi khoảng 21.000 người làm việc tại các viện nghiên cứu, trường đại học.
Kết quả về sở hữu trí tuệ và giao dịch công nghệ tiếp tục phản ánh những bất cập trong liên kết nghiên cứu với thị trường. Giai đoạn 2021-2025, doanh nghiệp Việt Nam được cấp hơn 700 bằng sáng chế, trong khi doanh nghiệp nước ngoài được cấp khoảng 24.000 bằng, gấp khoảng 35 lần.
Trên hơn 20 sàn giao dịch KH&CN, có khoảng 62.000 công nghệ được chào bán nhưng chỉ có 750 nhà đầu tư, doanh nghiệp tìm hiểu và phát sinh 72 giao dịch.
Từ những số liệu trên, Phó Thủ tướng đặt vấn đề, nếu tình trạng này kéo dài, sẽ khó phát huy KH&CN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực tăng trưởng của đất nước. Vì vậy, Hội nghị cần tập trung thảo luận thẳng thắn, nhận diện đúng những tồn tại, hạn chế, làm rõ nguyên nhân và đề xuất giải pháp tháo gỡ.


Toàn cảnh chương trình.
Phó Thủ tướng đề nghị các bộ, ngành, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp tập trung phân tích những vướng mắc về thể chế, chỉ rõ quy định nào còn bất cập, cơ chế nào cần tiếp tục tháo gỡ, từ cơ chế tham gia nghiên cứu, cơ chế tài chính đến việc sử dụng kết quả KH&CN và thương mại hóa sản phẩm.
Phó Thủ tướng khẳng định, Chính phủ sẵn sàng tiếp thu ý kiến về các quy định chưa hợp lý để xử lý những điểm nghẽn về thể chế, tạo điều kiện thúc đẩy hoạt động nghiên cứu, phát triển và ứng dụng KH&CN. "Cần trả lời rõ vì sao doanh nghiệp chưa mặn mà với kết quả nghiên cứu của viện, trường; vì sao những kết quả được đầu tư công sức, nguồn lực chưa được doanh nghiệp ứng dụng và chưa tiếp cận thị trường", Phó Thủ tướng nhấn mạnh.
Trên tinh thần đó, Phó Thủ tướng đề nghị đại diện các viện, trường và doanh nghiệp trao đổi thẳng thắn, đi vào những nguyên nhân, bất cập cụ thể, tránh phát biểu chung chung, hình thức. Từ việc nhận diện đúng các điểm nghẽn, Hội nghị cần đề xuất những giải pháp để mối liên kết giữa Nhà nước, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp đi vào thực chất, hình thành hệ sinh thái trong đó kết quả nghiên cứu, phát triển KH&CN và đổi mới sáng tạo được ứng dụng, thương mại hóa, tạo ra sản phẩm và đóng góp trực tiếp cho tăng trưởng kinh tế.
Chuyển từ đánh giá số lượng sang đo lường kết quả thực tế

Thứ trưởng Bộ KH&CN Lê Xuân Định báo cáo tại hội nghị.
Báo cáo tại Hội nghị, Thứ trưởng Bộ KH&CN Lê Xuân Định phân tích thực trạng, những điểm nghẽn và giải pháp thúc đẩy liên kết viện nghiên cứu, trường đại học với doanh nghiệp trong nghiên cứu, phát triển KH&CN.
Theo Thứ trưởng, hiệu quả mô hình liên kết "ba nhà" gồm Nhà nước, viện, trường và doanh nghiệp không thể chỉ đánh giá thông qua số lượng biên bản ghi nhớ hợp tác mà cần được đo lường bằng cơ chế phân chia lợi ích, dòng tiền và trách nhiệm cụ thể của các bên. Giai đoạn 2021-2025, doanh nghiệp chủ trì 181 trong tổng số 1.451 nhiệm vụ KH&CN cấp quốc gia, chiếm 12,5% về số lượng và 25,7% về kinh phí. Tỷ lệ nhiệm vụ cấp địa phương có doanh nghiệp liên kết, đối ứng vốn đạt khoảng 21%; một số địa phương đạt tỷ lệ cao như An Giang 53%, Gia Lai 47% và Hà Nội 40%.
Theo Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII), Việt Nam xếp thứ 24 trong số 133 quốc gia, nền kinh tế về hợp tác nghiên cứu và phát triển giữa trường đại học với doanh nghiệp. Tuy nhiên, mức đầu tư R&D của doanh nghiệp Việt Nam còn thấp, nguồn nhân lực nghiên cứu chủ yếu tập trung tại các trường đại học và viện nghiên cứu.
Thứ trưởng Lê Xuân Định chỉ ra 7 nhóm điểm nghẽn, bao gồm:
Thứ nhất, nghiên cứu chưa thực sự xuất phát từ nhu cầu ứng dụng và chưa gắn chặt với trách nhiệm tiếp nhận. Nhiều thỏa thuận dừng ở biên bản ghi nhớ, thiếu công việc, kinh phí, nhân lực và tiến độ cụ thể.
Thứ hai, nguồn lực chưa được kết nối liên tục để hoàn thiện công nghệ và đưa sản phẩm ra thị trường. Nhiều kết quả mới ở quy mô phòng thí nghiệm, thiếu dữ liệu vận hành, thiết kế sản xuất, hồ sơ tiêu chuẩn và chứng nhận.
Thứ ba, các viện nghiên cứu, trường đại học còn lo ngại rủi ro thanh tra, kiểm toán trong quá trình định giá, góp vốn bằng tài sản công và khai thác kết quả nghiên cứu.
Thứ tư, thiếu các văn phòng chuyển giao công nghệ chuyên nghiệp (TTO), làm hạn chế khả năng kết nối kết quả nghiên cứu với nhu cầu thị trường.
Thứ năm, động lực đổi mới sáng tạo và năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp còn yếu. Theo báo cáo, chưa đến 28% doanh nghiệp lớn có bộ phận R&D.
Thứ sáu, thiếu chính sách mua sắm công hỗ trợ sản phẩm mới, trong đó Nhà nước đóng vai trò khách hàng đầu tiên (First Buyer), tạo thị trường ban đầu cho các sản phẩm KH&CN.
Thứ bảy, việc phân bổ ngân sách chưa gắn chặt với kết quả hợp tác, trong khi hệ thống chỉ số đánh giá hiệu quả công việc (KPI) của nhà khoa học và doanh nghiệp chưa đồng bộ.
Từ những vấn đề này, Bộ KH&CN xác định yêu cầu trọng tâm là đưa các cơ chế mới vào thực tế, duy trì hợp tác từ hình thành bài toán đến khi công nghệ được sử dụng. Nhà nước kiến tạo điều kiện, hỗ trợ và chia sẻ rủi ro theo quy định; viện, trường phát triển giải pháp; doanh nghiệp xác định nhu cầu, cùng đầu tư, tiếp nhận và thương mại hóa.
Các giải pháp tập trung gồm: Đo lường kết quả liên kết bằng 10 chỉ số, nghĩa là chuyển từ đánh giá bằng số lượng hoạt động (số nhiệm vụ, số biên bản ghi nhớ, số doanh nghiệp spin-off được thành lập) sang đo lường bằng nguồn lực tài chính, nhân lực và kết quả ứng dụng thực tế.
Hoàn thiện chính sách để thiết kế hỗ trợ theo giai đoạn, kết hợp tài trợ, đặt hàng, đồng tài trợ và đầu tư, phù hợp với rủi ro, lợi ích công và khả năng đóng góp của doanh nghiệp; Gắn phân bổ kinh phí cho viện, trường với kết quả hợp tác và chuyển giao công nghệ; Nâng cao năng lực tiếp nhận của doanh nghiệp; Tạo lập thị trường ban đầu cho sản phẩm mới; Phát huy vai trò tổ chức trung gian, cụ thể hóa quyền tự chủ trong nghiên cứu và chuyển giao công nghệ.
Thanh Tùng
Nguồn: Vietq
