Tầm nhìn mới về hạ tầng kỹ thuật quốc gia
Hạ tầng chất lượng quốc gia từ lâu đã được xem là "xương sống" bảo đảm tính chính xác, an toàn và uy tín của sản phẩm, hàng hóa trên thị trường. Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, Quyết định 1876/QĐ-TTg khẳng định việc nâng cấp hệ thống tổ chức kỹ thuật tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng không chỉ phục vụ đắc lực cho công tác quản lý nhà nước mà còn góp phần giảm chi phí tuân thủ, bảo vệ sức khỏe cộng đồng và giữ vững an ninh, quốc phòng.
Quan điểm chỉ đạo xuyên suốt của Đề án là tập trung nâng cấp, kiện toàn năng lực từ chính các tổ chức hiện có để đạt chuẩn quốc gia, tránh đầu tư trùng lặp hay mở rộng tràn lan ra mạng lưới địa phương. Nhà nước tiếp tục giữ vai trò kiến tạo, tập trung nguồn lực cho các năng lực kỹ thuật cốt lõi và thiết yếu; đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa, thu hút sự tham gia của các nguồn lực trong và ngoài nước.
Trong mô hình này, người dân, doanh nghiệp và hiệu quả kinh tế - xã hội được đặt ở vị trí trung tâm, ưu tiên hàng đầu cho các ngành công nghệ cao, công nghệ chiến lược và các mặt hàng xuất khẩu chủ lực.

Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng đã ký Quyết định số 1876/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển hệ thống tổ chức kỹ thuật tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng quốc gia. (Ảnh: N. Nam)
Đột phá với những mục tiêu chiến lược đến năm 2030
Hướng tới năm 2030, Đề án đặt kỳ vọng hình thành một hệ thống kỹ thuật đồng bộ, hiện đại, liên thông và đạt trình độ được quốc tế thừa nhận rộng rãi. Kỳ vọng này được hiện thực hóa qua những chỉ tiêu cụ thể trên 5 trụ cột kỹ thuật then chốt:
Trước hết, đối với lĩnh vực công nhận, Việt Nam sẽ kiện toàn 01 tổ chức công nhận quốc gia đáp ứng hoàn toàn tiêu chuẩn quốc tế ISO/IEC 17011. Phạm vi thừa nhận quốc tế sẽ được mở rộng sang các chứng nhận mới đầy tiềm năng như hệ thống quản lý trí tuệ nhân tạo (AI), kiểm định khí nhà kính hay chứng nhận Halal.
Ở khâu đánh giá sự phù hợp, Đề án tập trung nâng cấp tối thiểu 03 tổ chức thử nghiệm, 01 tổ chức chứng nhận và 01 tổ chức giám định cấp quốc gia có khả năng phục vụ dùng chung cho nhiều ngành. Các đơn vị này sẽ bảo đảm 100% phạm vi hoạt động được công nhận theo chuẩn quốc tế, làm bệ phóng cho các sản phẩm công nghệ chiến lược và hàng hóa xuất khẩu rủi ro cao.
Về đo lường quốc gia, 01 tổ chức nòng cốt sẽ được củng cố để duy trì và dẫn xuất hệ thống chuẩn đo lường quốc gia. Đề án phấn đấu mở rộng tối thiểu 50 khả năng đo lường và hiệu chuẩn (CMC) được quốc tế thừa nhận theo thỏa thuận CIPM MRA, đồng thời sản xuất tối thiểu 30 loại mẫu chuẩn và tổ chức hơn 100 chương trình thử nghiệm thành thạo mỗi năm.
Bên cạnh đó, năng lực năng suất quốc gia được cải thiện thông qua việc thúc đẩy ứng dụng năng suất xanh, năng suất số, chuyển đổi xanh và xây dựng nền tảng tư vấn trực tuyến cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Cuối cùng, về tiêu chuẩn hóa, Việt Nam phấn đấu đạt tỷ lệ tối thiểu 75% tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) hài hòa với tiêu chuẩn quốc tế, ban hành khoảng 100 TCVN cho các công nghệ chiến lược và đào tạo ít nhất 300 chuyên gia đủ sức gánh vác các vị trí chủ trì tại các ban kỹ thuật quốc tế.
Đồng bộ các giải pháp thực thi từ thể chế đến nguồn lực
Để đưa các mục tiêu trên từ bản kế hoạch ra thực tiễn, Quyết định 1876/QĐ-TTg đã vạch ra lộ trình giải pháp toàn diện và thực chất.
Điểm đột phá đầu tiên nằm ở việc hoàn thiện thể chế và cơ chế đầu tư. Việc xây dựng danh mục tổ chức kỹ thuật cấp quốc gia và các năng lực ưu tiên đầu tư sẽ được rà soát công khai, minh bạch. Đáng chú ý, Chính phủ siết chặt tính hiệu quả khi yêu cầu mọi dự án đầu tư thiết bị mới phải cam kết rõ phương án kinh phí vận hành, bảo trì và tham gia so sánh quốc tế định kỳ, kiên quyết không để xảy ra tình trạng thiết bị hiện đại bị bỏ trống hay thiếu kinh phí duy trì.
Cùng với việc nâng cấp hạ tầng phòng thí nghiệm và chuẩn đo lường, chuyển đổi số được xem là công cụ đòn bẩy. Hệ thống cơ sở dữ liệu dùng chung về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng sẽ được kết nối liên thông với cơ quan quản lý, Hải quan và hệ thống truy xuất nguồn gốc quốc gia. Đề án định hướng số hóa quy trình, triển khai chứng chỉ điện tử dạng dữ liệu máy đọc được, đồng thời đưa Việt Nam tiên phong thí điểm áp dụng Chứng chỉ hiệu chuẩn số (DCC) và Hệ đơn vị quốc tế dạng số (Digital SI) trước năm 2028.
Yếu tố then chốt bảo đảm sự thành công của Đề án chính là con người và nguồn lực. Bên cạnh các chương trình đào tạo chuyên sâu, Nhà nước sẽ nghiên cứu cơ chế đặc thù trong tuyển dụng, thu hút, đãi ngộ và khoán theo kết quả đối với các chuyên gia kỹ thuật cao. Nguồn tài chính cho Đề án sẽ được bảo đảm đa dạng, lồng ghép từ ngân sách khoa học công nghệ, chuyển đổi số, các chương trình mục tiêu quốc gia và các nguồn vốn xã hội hóa hợp pháp.
Phân công trách nhiệm rõ ràng, bảo đảm hiệu quả thi hành
Nhằm bảo đảm Đề án được triển khai thống nhất và không bị chồng chéo, Quyết định 1876/QĐ-TTg phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng bộ, ngành và địa phương: Bộ Khoa học và Công nghệ giữ vai trò chủ trì, đầu mối phối hợp toàn bộ Đề án; chịu trách nhiệm trình ban hành danh mục tổ chức kỹ thuật cấp quốc gia, xây dựng hạ tầng số dùng chung, cũng như đôn đốc, kiểm tra và định kỳ báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
Bộ Tài chính phối hợp cân đối, tổng hợp nguồn ngân sách nhà nước (bao gồm cả chi đầu tư và chi thường xuyên) cho các nhiệm vụ thuộc Đề án theo đúng quy định pháp luật.
Các Bộ, cơ quan ngang Bộ và UBND các tỉnh, thành phố có trách nhiệm phối hợp rà soát nhu cầu thực tế của ngành, địa phương để đăng ký sử dụng chung hạ tầng kỹ thuật cấp quốc gia, tránh tình trạng tự đầu tư trùng lặp, phân tán.
Các tổ chức kỹ thuật được lựa chọn đóng vai trò nòng cốt, phải chủ động xây dựng kế hoạch nâng cao năng lực, nhân lực và đẩy mạnh hợp tác quốc tế để nâng cao uy tín của kết quả đánh giá sự phù hợp do Việt Nam cấp.
Quyết định 1876/QĐ-TTg có hiệu lực thi hành ngay từ ngày ký (ngày 30/9/2026). Việc triển khai quyết liệt Đề án hứa hẹn sẽ tạo ra bước chuyển mình mạnh mẽ cho Hạ tầng chất lượng quốc gia, trở thành động lực quan trọng nâng tầm sản phẩm Việt trên thị trường nội địa lẫn toàn cầu.
Hồng Anh
Nguồn: Vietq
