
Tổng Bí thư Tô Lâm cùng các đại biểu tham quan khu trưng bày các sản phẩm khoa học - công nghệ tại Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ XI, ngày 27-12-2025_Ảnh: baochinhphu.vn
Trí tuệ con người - nền tảng hình thành, phát triển sức mạnh dân tộc
Trong tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước, trí tuệ là yếu tố trung tâm hình thành nên sức mạnh nội sinh của dân tộc Việt Nam. Từ buổi đầu lập quốc, dân tộc ta phải đối mặt với điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, thường xuyên bị ngoại xâm đe dọa. Hoàn cảnh đó đã hun đúc nên bản lĩnh, óc sáng tạo và khả năng thích ứng linh hoạt của con người Việt Nam. Trí tuệ không chỉ biểu hiện ở tri thức, mà còn ở tầm nhìn, sự mưu lược và khả năng ứng biến trước thử thách. Theo đó, nhờ phát huy trí tuệ, dân tộc Việt Nam đã vượt qua mọi gian khó để tồn tại, phát triển, khẳng định vị thế quốc gia - dân tộc trong lịch sử nhân loại. Trí tuệ Việt Nam được thể hiện sinh động qua nghệ thuật quân sự, tài ngoại giao và tư duy trị nước của các thế hệ tiền nhân. Chiến thắng Bạch Đằng năm 938, ba lần đại phá quân Nguyên - Mông thế kỷ XIII, chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, cách mạng Tháng Tám năm 1945, Đại thắng mùa Xuân năm 1975… cho thấy tầm cao trí tuệ của dân tộc. Đó là trí tuệ biết lấy ít thắng nhiều, biết chọn thời cơ, biết vận dụng linh hoạt chiến lược “dĩ đoản chế trường”. Trí tuệ Việt Nam được thể hiện ở tư duy nhân nghĩa, dân làm gốc, lấy lòng người làm sức mạnh. Nhờ đó, dân tộc ta đã tạo nên bản lĩnh văn hóa riêng, lấy chính nghĩa thắng hung tàn, lấy trí tuệ để bảo vệ độc lập, tự do và hòa bình.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi trí tuệ là nhân tố quyết định để dân tộc giành và giữ độc lập, phát triển bền vững. Người khẳng định: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”(1). Theo Người, trình độ dân trí không chỉ phản ánh năng lực tri thức, mà còn thể hiện sức mạnh chính trị, khả năng tự chủ và tầm vóc văn hóa của dân tộc. Vì vậy, Người đặt vấn đề giáo dục, học tập, nâng cao dân trí là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng. Người viết: “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự Đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại”(2). Những lời dạy trên thể hiện tầm nhìn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh về trí tuệ như một giá trị cốt lõi bảo đảm cho độc lập dân tộc và phát triển xã hội. Tư tưởng “nâng cao dân trí” của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ dừng ở việc phổ cập kiến thức, mà còn là quá trình khơi dậy năng lực tư duy độc lập, sáng tạo và hành động có trách nhiệm của mỗi người dân. Người coi tri thức là ánh sáng soi đường cho lòng yêu nước, là yếu tố chuyển hóa ý chí thành hành động, biến khát vọng thành hiện thực. Chính nhờ đề cao trí tuệ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Trí tuệ con người Việt Nam không chỉ tồn tại trong các bậc anh hùng, danh nhân, mà còn thấm sâu trong đời sống cộng đồng. Đó là trí tuệ của người nông dân làm nên hạt gạo nuôi sống đồng bào, điểm tựa vĩnh cửu cho mọi thăng trầm của đất nước; là trí tuệ của người thợ biết sáng tạo trong từng công cụ, nghề nghiệp; là trí tuệ của các thế hệ trí thức Việt Nam tiếp thu tinh hoa nhân loại để phụng sự dân tộc. Nói cách khác, trí tuệ là kết tinh của lao động, sáng tạo và nhân ái, ba yếu tố làm nên bản sắc văn hóa Việt Nam. Nhờ đó, dân tộc ta luôn tìm thấy con đường đi riêng, phù hợp với hoàn cảnh cụ thể, biết “ứng vạn biến” nhưng vẫn giữ “cái bất biến”, giữ vững độc lập, chủ quyền và bản sắc. Nhìn lại lịch sử dân tộc có thể thấy, trí tuệ đã trở thành “mạch nguồn mềm” của sức mạnh Việt Nam. Đó là sức mạnh không phô trương nhưng bền bỉ, thẳm sâu và có khả năng tái sinh để mạnh lên qua mọi biến cố.
Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng xác định, trí tuệ con người Việt Nam là một thành tố trọng yếu trong cấu trúc sức mạnh quốc gia, đồng thời là nền tảng để đất nước tiến mạnh trong kỷ nguyên mới. Trong các quan điểm chỉ đạo, Dự thảo nêu rõ cần “phát huy sức mạnh, bản lĩnh, trí tuệ của con người Việt Nam, khối đại đoàn kết toàn dân tộc và thế trận lòng dân”. Cách đặt trí tuệ bên cạnh bản lĩnh, đại đoàn kết và lòng dân cho thấy đây không chỉ là một phẩm chất cá nhân mà là một yếu tố tạo nên sức mạnh tổng hợp của dân tộc, có vai trò chi phối mọi bước phát triển của đất nước. Tư duy này tiếp tục được làm rõ khi trong dự thảo nhận định Việt Nam đang đứng trước “bước ngoặt mới, vận hội mới mang tính lịch sử đối với sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”. Việc xác định “bước ngoặt” đồng nghĩa với yêu cầu phải tạo ra đột phá về tư duy, mô hình và nguồn lực phát triển. Trong đó, trí tuệ con người được xem là điều kiện quyết định để nhận diện đúng tình hình, tận dụng thời cơ, hóa giải thách thức và dẫn dắt quá trình đổi mới sáng tạo.
Trong lĩnh vực phát triển kinh tế, dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng coi trí tuệ con người Việt Nam là nền tảng để hình thành động lực tăng trưởng mới. Dự thảo nêu yêu cầu “đẩy mạnh đột phá về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chủ động hội nhập quốc tế”, nhưng chính trí tuệ của con người mới là yếu tố quyết định khả năng tiếp thu, làm chủ và sáng tạo tri thức mới. Trong bối cảnh kinh tế thế giới vận động theo hướng kinh tế tri thức và kinh tế số, phát huy trí tuệ con người giúp Việt Nam chuyển từ tăng trưởng dựa vào tài nguyên và lao động sang tăng trưởng dựa vào năng lực sáng tạo, tư duy khoa học và chất lượng nhân lực. Khi trí tuệ được phát huy, khoa học - công nghệ mới thật sự trở thành động lực, năng suất lao động mới có thể tăng nhanh, nền kinh tế mới có thể tự chủ, thích ứng hiệu quả với những biến động của thế giới. Bởi vậy, theo tinh thần dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng, phát triển kinh tế trong giai đoạn mới thực chất là phát huy trí tuệ con người Việt Nam - nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của quốc gia.
Cùng với phát triển kinh tế, trí tuệ con người Việt Nam có vai trò đặc biệt quan trọng trong xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh yêu cầu phải “kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Những nội dung này đặt ra yêu cầu đội ngũ cán bộ, đảng viên phải có trí tuệ sắc bén, có khả năng tư duy khoa học, biết phân tích đúng xu thế, dự báo chính xác tình hình và tổ chức thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ chính trị. Tư tưởng Hồ Chí Minh luôn coi trí tuệ của cán bộ là nhân tố quyết định vận mệnh của Đảng. Người nhiều lần nhấn mạnh: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”(3) và cán bộ phải “vừa hồng vừa chuyên”, tức là phải có trí tuệ, có năng lực nắm bắt quy luật để lãnh đạo nhân dân thực hiện mục tiêu đất nước. Trong bối cảnh mới, trí tuệ của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý là yếu tố quyết định sức mạnh của hệ thống chính trị, khả năng đổi mới và tính hiệu quả của từng quyết sách phát triển.
Trong lĩnh vực quốc phòng - an ninh, trí tuệ tiếp tục khẳng định vai trò quyết định. Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nêu rõ nhiệm vụ “đẩy mạnh đột phá phát triển công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại” để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới. Điều này cho thấy, bảo vệ Tổ quốc trong thời đại công nghệ cao không chỉ dựa vào tiềm lực vật chất mà trước hết dựa vào năng lực làm chủ tri thức và công nghệ hiện đại. Sức mạnh quốc phòng hiện nay đòi hỏi người Việt Nam phải có trình độ tư duy chiến lược, có khả năng ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống, nắm bắt các xu hướng công nghệ quân sự mới và sáng tạo trong tổ chức lực lượng. Trí tuệ trở thành yếu tố bảo đảm để quốc phòng Việt Nam giữ được thế chủ động, vững chắc trong bất kỳ tình huống nào.
Bên cạnh những đóng góp cho lĩnh vực kinh tế, chính trị và quốc phòng, trí tuệ còn là nền tảng tinh thần của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng khẳng định, phải “phát huy sức mạnh văn hóa, con người thành nguồn lực nội sinh”. Trí tuệ làm cho văn hóa trở thành sức mạnh mềm, giúp dân tộc ta hội nhập mà không hòa tan, tiếp thu tinh hoa nhân loại nhưng vẫn gìn giữ những giá trị truyền thống tốt đẹp. Trí tuệ cũng khiến khát vọng phát triển trở thành động lực, tinh thần đoàn kết trở nên bền vững, và bản sắc Việt Nam được khẳng định trong dòng chảy toàn cầu hóa. Đây chính là “sức mạnh mềm” giúp đất nước vượt lên khỏi những thách thức của thời đại.
Những năm gần đây, trí tuệ con người Việt Nam ngày càng được khẳng định như một nguồn lực đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển đất nước. Năng lực tư duy, sáng tạo của thế hệ trẻ Việt Nam được khẳng định rõ nét qua thành tích tại các kỳ thi Olympic khu vực và quốc tế. Giai đoạn 2020 - 2025, các đội tuyển Việt Nam đi dự thi Olympic khu vực và quốc tế đã đem về cho Việt Nam 54 huy chương vàng, 60 huy chương bạc, 45 huy chương đồng cùng 14 bằng khen quốc tế(4). Việt Nam liên tục nằm trong nhóm các quốc gia có thành tích cao về toán học, vật lý, hóa học, tin học, cho thấy tiềm năng phát triển trí tuệ của thế hệ trẻ đang được nuôi dưỡng bài bản và hiệu quả. Cùng với đó, năng lực hội nhập tri thức toàn cầu có bước phát triển mạnh mẽ. Hiện có gần 250.000 du học sinh Việt Nam đang học tập ở nước ngoài(5), ở nhiều bậc học khác nhau, tiếp cận trực tiếp với những nền giáo dục tiên tiến, lĩnh vực khoa học - công nghệ hiện đại, các mô hình đổi mới sáng tạo toàn cầu. Đây là nguồn nhân lực trí tuệ có khả năng đóng góp lớn cho tiến trình phát triển trong thời gian tới. Bên cạnh lĩnh vực giáo dục, đội ngũ trí thức Việt Nam trong và ngoài nước ngày càng trưởng thành. Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tính đến năm 2025, Việt Nam hiện có hơn 26.000 tiến sĩ, gần 7.000 giáo sư và phó giáo sư(6) đang làm việc trong các cơ sở nghiên cứu, trường đại học và viện khoa học. Nhiều công trình nghiên cứu được ứng dụng trong thực tiễn, đóng góp vào phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh và hội nhập quốc tế. Đáng chú ý, mạng lưới hơn 6 triệu người Việt Nam ở nước ngoài, trong đó có gần 600.000 trí thức và chuyên gia, đang trở thành nguồn lực trí tuệ có khả năng kết nối Việt Nam với tri thức toàn cầu. Những thành quả nêu trên thể hiện rõ sự chuyển biến về chất trong việc phát huy trí tuệ con người Việt Nam, góp phần tạo nền tảng quan trọng để đất nước thực hiện những mục tiêu chiến lược trong dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc phát huy trí tuệ con người Việt Nam còn một số hạn chế: 1- Một bộ phận nguồn nhân lực chất lượng cao chưa phát huy được năng lực do môi trường làm việc, điều kiện nghiên cứu và cơ chế trọng dụng nhân tài còn chưa đồng bộ. Việt Nam có số lượng du học sinh lớn, nhưng tỷ lệ quay trở về làm việc trong nước còn hạn chế. Đây là một biểu hiện của “chảy máu chất xám”, đang làm giảm hiệu quả khai thác nguồn lực trí tuệ của dân tộc. 2- Chất lượng giáo dục đại học và khoa học - công nghệ tuy có tiến bộ nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế tri thức. Tỷ lệ công bố khoa học quốc tế tuy tăng nhanh nhưng phân bố không đồng đều; năng lực tự chủ nghiên cứu, chuyển giao công nghệ còn hạn chế; liên kết giữa viện - trường - doanh nghiệp chưa thực sự hiệu quả. 3- Đầu tư cho khoa học - công nghệ hiện chỉ chiếm khoảng 0,5% GDP, thấp hơn nhiều so với mức trung bình 2,3% của thế giới(7). 4- Trong lĩnh vực quản lý và hoạch định chính sách, trí tuệ của đội ngũ cán bộ chưa trở thành lợi thế nổi bật. Một số nơi còn biểu hiện tư duy nhiệm kỳ, thiếu tầm nhìn chiến lược, chậm đổi mới, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững…

Đội tuyển quốc gia Việt Nam dự thi Olympic Trí tuệ nhân tạo quốc tế (IOAI) năm 2025 tại Thủ đô Bắc Kinh, Trung Quốc. Ảnh: thanhnien.vn
Giải pháp phát huy trí tuệ con người Việt Nam
Thứ nhất, cần đổi mới tư duy về phát triển con người, coi phát huy trí tuệ là trung tâm của chiến lược phát triển quốc gia. Chính sách phát triển trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội và khoa học - công nghệ cần được thiết kế theo hướng lấy con người làm trung tâm, lấy phát huy trí tuệ làm động lực chủ đạo cho tăng trưởng và phát triển bền vững. Giáo dục không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ tri thức, mà phải trở thành quá trình nuôi dưỡng tư duy độc lập, tinh thần khai phóng và năng lực đổi mới sáng tạo. Mục tiêu cao nhất của giáo dục là hình thành những con người có nhân cách, trí tuệ, bản lĩnh, có khả năng thích ứng với sự biến động của thời đại và sẵn sàng cống hiến cho Tổ quốc. Để đạt được điều đó, cần xây dựng một hệ thống giáo dục mở, linh hoạt, hiện đại, gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo với thực tiễn đời sống xã hội. Giáo dục phải trở thành chiếc cầu nối giữa tri thức và hành động, giữa lý luận và thực tiễn, để mỗi người học có thể vận dụng sáng tạo kiến thức vào thực tế. Cùng với đó, khuyến khích tinh thần học tập suốt đời, hình thành xã hội học tập thực chất, nơi mọi người dân đều có cơ hội phát triển năng lực trí tuệ, góp phần làm giàu tri thức dân tộc và thúc đẩy sự tiến bộ của đất nước.
Thứ hai, cần xây dựng và hoàn thiện hệ thống thể chế tạo điều kiện cho trí tuệ phát triển. Trí tuệ chỉ có thể trở thành động lực phát triển khi được nuôi dưỡng trong môi trường pháp lý minh bạch, khuyến khích sáng tạo và bảo vệ sự cống hiến. Việc cải cách thủ tục hành chính, củng cố kỷ cương điều hành, phát triển thị trường khoa học - công nghệ, nâng cao hiệu lực bảo hộ sở hữu trí tuệ và tạo cơ chế hỗ trợ mạnh mẽ cho đổi mới sáng tạo trong khu vực doanh nghiệp là yêu cầu cấp thiết. Khi thể chế được vận hành thông suốt, trí tuệ sẽ được chuyển hóa thành các sáng kiến khoa học, thành công nghệ mới, thành sản phẩm giá trị cao và thành năng suất vượt trội, từ đó trực tiếp nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế theo tinh thần “phát triển nhanh, bền vững” mà dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng xác định.
Thứ ba, cần phát huy những thế mạnh chiến lược của Việt Nam để tạo ra đột phá trí tuệ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng cao trong trung hạn, đặc biệt là mục tiêu tăng trưởng hai con số. Việt Nam có lợi thế lớn về “dân số vàng”, truyền thống hiếu học, năng lực thích ứng nhanh với tri thức mới, độ mở kinh tế cao và vị trí địa kinh tế quan trọng trong khu vực đang phát triển năng động bậc nhất thế giới. Trên cơ sở đó, cần hình thành các trung tâm trí tuệ và đổi mới sáng tạo tầm khu vực tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và một số địa phương có tiềm năng. Những trung tâm này phải hội tụ đội ngũ chuyên gia hàng đầu, doanh nghiệp công nghệ dẫn dắt, hệ thống đại học nghiên cứu mạnh và các nguồn lực tài chính có khả năng lan tỏa đổi mới sáng tạo trên quy mô quốc gia. Khi thế mạnh quốc gia được tập trung hóa thành động lực đổi mới, trí tuệ sẽ trở thành nguồn lực trực tiếp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn mới.
Thứ ba, khơi dậy tinh thần tự tôn dân tộc và khát vọng cống hiến của mỗi người Việt Nam. Trí tuệ không thể phát huy trong môi trường thờ ơ, an phận hay sợ trách nhiệm. Vì vậy, cần tạo ra môi trường xã hội khuyến khích sáng tạo, tôn trọng khác biệt và đề cao giá trị của tri thức. Cần phát huy vai trò của đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, doanh nhân, nhà khoa học; đồng thời, kết nối, quy tụ trí tuệ Việt Nam trên toàn cầu. Mạng lưới tri thức kiều bào phải trở thành cầu nối truyền tải công nghệ, kinh nghiệm quản trị và tinh thần sáng tạo về cho Tổ quốc, đóng góp thiết thực vào sự nghiệp phát triển đất nước.
Thứ tư, cần đổi mới mạnh mẽ cơ chế phát hiện, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài, coi đây là khâu đột phá trong phát huy trí tuệ Việt Nam. Nhân tài là tài sản đặc biệt của quốc gia, là nguồn lực chiến lược quyết định sức mạnh và tầm vóc phát triển của dân tộc. Cần xây dựng cơ chế phát hiện sớm, bồi dưỡng đúng hướng và sử dụng hiệu quả người có năng lực, phẩm chất và khát vọng cống hiến. Việc đánh giá, tuyển chọn và bổ nhiệm phải dựa trên tiêu chí năng lực thực tiễn, hiệu quả công tác, bảo đảm khách quan, minh bạch và công bằng. Đồng thời, cần hoàn thiện chính sách đãi ngộ, tạo môi trường làm việc chuyên nghiệp, khuyến khích sáng tạo và tôn vinh giá trị của tri thức. Trọng dụng nhân tài không chỉ là nhiệm vụ của Nhà nước, mà còn là trách nhiệm chung của toàn xã hội trong việc nuôi dưỡng, phát huy và lan tỏa tinh hoa trí tuệ Việt Nam.
Thứ năm, phát huy trí tuệ phải gắn chặt với phát triển văn hóa và xây dựng con người Việt Nam hiện đại, giàu bản sắc. Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là cội nguồn hình thành nhân cách, bồi đắp trí tuệ và khơi dậy khát vọng vươn lên của dân tộc. Một nền văn hóa tiên tiến, lành mạnh sẽ tạo nên môi trường xã hội ổn định, nuôi dưỡng năng lực sáng tạo và khuyến khích con người không ngừng hoàn thiện bản thân. Phát triển văn hóa phải đi đôi với phát triển con người, trong đó giáo dục văn hóa, đạo đức, lối sống có vai trò đặc biệt quan trọng. Cần xây dựng môi trường văn hóa thực chất, nơi giá trị của trung thực, nhân ái, tinh thần cầu thị và ý thức trách nhiệm được đề cao. Mỗi giá trị văn hóa được vun đắp không chỉ làm giàu đời sống tinh thần của xã hội mà còn góp phần tạo dựng nền tảng đạo đức, trí tuệ cho sự phát triển bền vững của quốc gia. Phát huy trí tuệ Việt Nam trong kỷ nguyên mới vì thế phải bắt đầu từ việc củng cố sức mạnh văn hóa dân tộc. Khi văn hóa trở thành sức mạnh nội sinh của xã hội, trí tuệ con người Việt Nam sẽ có điều kiện nảy nở, lan tỏa và cống hiến hiệu quả hơn cho sự nghiệp xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Bên cạnh đó, cần phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước trong việc định hướng, khơi dậy và quy tụ trí tuệ dân tộc. Phát huy trí tuệ Việt Nam trong kỷ nguyên mới chính là phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng đất nước phát triển nhanh, bền vững, hùng cường và hạnh phúc.
Trí tuệ con người Việt Nam là tinh hoa của dân tộc, là ngọn nguồn tạo nên sức sống bền bỉ và khát vọng vươn lên của đất nước. Trải qua bao biến thiên lịch sử, chính trí tuệ đã giúp dân tộc ta biến gian khó thành cơ hội, biến thử thách thành động lực, khẳng định bản lĩnh và tầm vóc Việt Nam trên bản đồ thế giới. Trong kỷ nguyên của tri thức, kinh tế số và đổi mới sáng tạo, trí tuệ không chỉ là tài sản tinh thần mà còn là nguồn lực chiến lược quyết định tương lai dân tộc. Phát huy trí tuệ Việt Nam là phát huy khát vọng sáng tạo, tinh thần dấn thân và ý chí tự cường của mỗi con người Việt Nam; là khơi dậy sức mạnh nội sinh để đất nước phát triển nhanh, bền vững và tự tin sánh vai cùng các cường quốc năm châu. Khi mỗi người Việt Nam được học tập trong một nền giáo dục tiên tiến, được làm việc trong một môi trường công bằng, nhân văn và được truyền cảm hứng cống hiến vì Tổ quốc, thì trí tuệ Việt Nam sẽ thực sự trở thành ngọn lửa soi đường cho dân tộc trên hành trình xây dựng đất nước hùng cường, phồn vinh và hạnh phúc.
-----------------------
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 4, tr. 7
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 6, tr. 208
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 309
(4) Xem: Khánh Nguyễn: “5 năm qua, học sinh Việt Nam giành 54 Huy chương Vàng Olympic”, Đài truyền hình Việt Nam, ngày 21-5-2025, https://vtv.vn/giao-duc/5-nam-qua-hoc-sinh-viet-nam-gianh-54-huy-chuong-vang-olympic-20250520233648316.htm
(5) Xem: Lê Trần Thanh Hà: “Du học sinh Việt Nam vững niềm tin với Đảng trước “ma trận” thông tin nơi xứ người - Bài 1: Hiểm họa từ những “bóng ma” xuyên tạc trên không gian mạng”, Báo Quân đội nhân dân, ngày 25-11-2025, https://www.qdnd.vn/cuoc-thi-viet-vung-buoc-duoi-co-dang/du-hoc-sinh-viet-nam-vung-niem-tin-voi-dang-truoc-ma-tran-thong-tin-noi-xu-nguoi-bai-1-hiem-hoa-tu-nhung-bong-ma-xuyen-tac-tren-khong-gian-mang-1013727
(6) Xem: Thu Hằng: “Giáo dục đại học: Tỷ lệ giảng viên GS, PGS tăng đều, công bố quốc tế bứt phá”, Báo điện tử Tiếng nói Việt Nam, ngày 18-9-2025, https://vov.vn/xa-hoi/giao-duc-dai-hoc-ti-le-giang-vien-gs-pgs-tang-deu-cong-bo-quoc-te-but-pha-post1230963.vov
(7) Xem: Trà My và Quang Huy: “Bài 1: Cần đột phá từ nhân lực và đầu tư cho R&D”, Báo Nhân dân, ngày 24-4-2025, https://nhandan.vn/cung-co-noi-luc-de-but-pha-trong-ky-nguyen-so-can-dot-pha-tu-nhan-luc-va-dau-tu-cho-rd-post875370.html
TS Võ Văn Lợi - Nguyễn Hạnh Nguyên
Học viện Chính trị khu vực III
(Theo Tạp chí Cộng sản)
