Tin mới:
Giai đoạn phát triển bứt phá
Nhiều chuyên gia cho rằng Việt Nam (VN) đang đứng trước thời cơ lịch sử vàng đế bứt phá phát triển mạnh. Đây là giai đoạn quyết định để VN chuyển mình mạnh mẽ với cách mạng công nghiệp 4.0, số hóa, trí tuệ nhân tạo, tăng trưởng xanh và kinh tế tuần hoàn. Với quyết tâm cao, kiên trì tăng trưởng nhanh, bền vững và thực chất. VN có khả năng thoát bẫy thu nhập trung bình, vươn mình trở thành nền kinh tế thu nhập cao, thịnh vượng, hiện thực hóa khát vọng dân tộc hùng cường.
Xuất khẩu rau quả tiếp tục tăng tốc
Theo Hiệp hội rau quả VN (VINAFRUIT), tính sơ bộ đến ngày 20/3, giá trị xuất khẩu rau quả VN đạt gần 483 triệu USD, tăng hơn 37% so với tháng trước và tăng 1,2% so với cùng kỳ năm 2025. Tính chung 3 tháng đầu năm 2026, giá trị xuất khẩu đạt gần 1,48 tỷ USD, tăng 27% so với cùng kỳ năm ngoái, tương đương khoảng 500 triệu USD/tháng. Xét theo thị trường xuất khẩu, Trung Quốc tiếp tục là đối tác lớn nhất của rau quả VN, khi 2 tháng đầu năm 2026, giá trị xuất khẩu sang thị trường này đạt hơn 538 triệu USD, tăng 76% so với cùng kỳ và chiếm hơn 54% thị phần. Một số thị trường ghi nhận mức tăng trưởng mạnh như Malaysia tăng 197%, Đức tăng 183% và Hà Lan tăng 155%, phản ánh xu huớng mở rộng thị trường xuất khẩu ra ngoải châu Á.
Ngành thịt vướng nút thắt giết mổ, chế biến
Dù nguồn nguyên liệu dồi dào và sản lượng chăn nuôi liên tục tăng, ngành giết mổ và chế biến sản phẩm động vật tại VN vẫn bộc lộ nhiều bất cập. Hệ thống giết mổ nhỏ lẻ, thiếu kiểm soát; năng lực chế biến sâu hạn chế. Mặc dù số luợng doanh nghiệp và sản lượng có xu hướng tăng, nhưng tỷ lệ chế biến sâu vẫn còn thấp so với tiềm năng. Thị trường hiện nay chủ yếu tiêu thụ thịt mát, thịt đông lạnh và các sản phẩm truyền thống như giò, chả, xúc xích; các sản phẩm có giá trị gia tăng cao chưa phát triển tương xứng. Sự phân hóa công nghệ giữa các doanh nghiệp khá rõ rệt: chỉ khoảng 20% đạt trình độ tiên tiến, còn lại chủ yếu ở mức trung bình hoặc lạc hậu, đặc biệt là khu vực doanh nghiệp nhỏ và hộ sản xuất. Bên cạnh đó, hệ thống logistics lạnh còn thiếu và yếu. Vì vậy, cần chuyển mạnh từ mô hình giết mổ nhỏ lẻ sang tập trung, chuẩn hóa và có kiểm soát, phấn đấu đến năm 2030, tỷ lệ giết mổ công nghiệp đạt khoảng 70% đối với gia súc và 50% đối với gia cầm. Bên cạnh đó, cần phát triển hệ thống logistics lạnh, xây dựng vùng nguyên liệu an toàn dịch bệnh gắn với truy xuất nguồn gốc; nâng cao tính tự chủ về nguyên liệu, đa dạng hóa nguồn cung và tối ưu hóa chi phí logistics. Đặc biệt, cần thay đổi mô hình phát triển từ phân tán sang tập trung, từ sản lượng sang giá trị và từ ngắn hạn sang bền vững. Ngăn chặn lạm dụng kháng sinh trong chăn nuôi: cần chiến lược quản lý tổng thể.
Việc lạm dụng kháng sinh trong chăn nuôi cùng thực trạng xử lý chất thải chưa triệt để đang tạo ra “vòng xoáy nguy hiểm”, tiềm ẩn khả năng xuất hiện, lan rộng của vi khuẩn kháng thuốc. Không dừng lại ở vật nuôi, nguy cơ này tác động trực tiếp đến sức khỏe con người qua môi trường và thực phẩm, đặt ra yêu cầu cấp thiết về chiến lược quản lý tổng thế... Trước thực trạng trên, các chuyên gia nhận định, việc kiểm soát kháng sinh không thế dừng lại ở những giải pháp đơn lẻ, mà cần chiến lược tổng thể cấp quốc gia, với sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành. Cần đổi mới cách tiếp cận trong nghiên cứu và quản lý, chuyển từ các đề tài nhỏ lẻ sang tư duy theo chuỗi, theo chương trình lớn, gắn với nhu cầu thực tiễn của ngành và thị trường. Việc kiểm soát sử dụng kháng sinh, cải thiện điều kiện chăn nuôi và xử lý chất thải cần được triển khai đồng bộ với sự phối hợp liên ngành chặt chẽ.
Vụ gian lận dữ liệu quan trắc: Rủi ro đáng báo động
Vụ việc can thiệp dữ liệu tại các trạm trắc quan môi trường đang được dư luận đặc biệt quan tâm. Nhiều chuyên gia cho rằng đây là lỗ hổng nghiêm trọng trong công tác quản lý nhà nước về môi trường, xuất phát từ cơ chế thiếu chặt chẽ, bệnh thành tích và sự thiếu trách nhiệm của một số tổ chức, cá nhân. Cơ quan chức năng cần sớm công khai kết luận điều tra, các hành vi vi phạm, biện pháp xử lý nghiêm khắc. Một số chuyên gia kiến nghị cần xây dựng hệ thống giám sát độc lập, công khai dữ liệu quan trắc môi trường thời gian thực để các cơ quan nhà nước, nhà khoa học và nhân dân cùng tham gia giám sát; đồng thời tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, xây dựng cơ chế kiểm soát, giám sát chặt chẽ đế ngăn chặn các vụ việc tương tự.
Xuất khẩu qua cửa khẩu khỏi sắc, mở rộng dư địa tăng trưởng
Xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam (VN) ghi nhận đà tăng trưởng mạnh từ đầu năm 2026, với điểm sáng nổi bật tại các cửa khẩu biên giới. Trong kỳ 1 tháng 3 (1-15/3), kim ngạch xuất khẩu đạt 20,35 tỷ USD, tăng 98,1% so với kỳ trước; lũy kế từ đầu năm đến giữa tháng 3 đạt 96,8 tỷ USD, tăng 17,1% so với cùng kỳ 2025. Các cửa khẩu phía Bắc như Móng Cái và Lạng Sơn ghi nhận sự bứt phá mạnh, nhờ các cải cách trong thông quan, đặc biệt là việc thí điểm thông quan cuối tuần tại cầu Bắc Luân II giúp giảm ùn tắc, tiết kiệm chi phí logistics và tăng tính linh hoạt cho doanh nghiệp. Nhóm hàng công nghiệp chế biến, chế tạo, như điện tử, điện thoại, máy móc, tiếp tục đóng vai trò động lực chính cho tăng trưởng xuất khẩu. Chính phủ đã phê duyệt đề án xây dựng cửa khẩu thông minh tại Lào Cai (18/3/2026), ứng dụng các công nghệ như AI, IoT, Big Data và 5G nhằm hiện đại hóa quản lý và tăng tốc thông quan. Mục tiêu đến năm 2030 là tăng gấp đôi năng lực vận chuyển, giảm 20-30% chi phí logistics và hướng tới nhân rộng mô hình trên các tuyến biên giới khác.
Bứt phá thị trường nông nghiệp hữu cơ
Nông nghiệp hữu cơ tại VN dù có nhiều tiềm năng nhưng đang đối mặt vói hàng loạt rào cản lớn như quy mô sản xuất nhỏ lẻ, thiếu vùng nguyên liệu tập trung và nguồn cung không ổn định, khiến việc xây dựng chuỗi cung ứng và thị trường tiêu thụ gặp khó khăn. Bên cạnh đó, sự thiếu minh bạch và nhầm lẫn giữa sản phẩm “đạt chuẩn hữu cơ” và “theo hướng hữu cơ” làm suy giảm niềm tin người tiêu dùng. Thực tế cho thấy có những mô hình đạt chứng nhận nhưng vẫn tiêu thụ với giá thấp, trong khi một số khác thành công nhờ đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế và xây dựng được thị trường riêng. Ngoài ra, chi phí sản xuất cao, yêu cầu kỹ thuật khắt khe, khó khăn trong bảo quản, vận chuyển và tình trạng giả mạo sản phẩm hữu cơ cũng là những thách thức đáng kể. Dù thị trường toàn cầu mở ra nhiều cơ hội, ngành nông nghiệp hữu cơ VN cần giải quyết đồng thời ba vấn đề cốt lõi là chuẩn hóa tiêu chuẩn, tăng cường liên kết chuỗi và củng cố niềm tin người tiêu dùng, từ đó hướng tới phát triển bền vững và nâng cao giá trị nông sản.
Chuyên gia Indonesia khuyến nghị trụ cột bảo đảm an ninh năng lưọng cho Việt Nam
Trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông tiếp tục đẩy thị trương năng lượng toàn cầu vào trạng thái bất ổn, ông Beni Sukadis, Điều phối viên cao cấp của Viện Nghiên cứu quốc phòng và chiến lược Indonesia (LESPERSSI), khuyến nghị VN tham khảo cách tiếp cận “3 lớp” mà Indonesia đang triển khai để đảm bảo an ninh năng lượng trong bối cảnh thị trường toàn cầu bất ổn. Ở tầng ngắn hạn, lakarta ưu tiên ổn định nguồn cung và xây dựng các kịch bản phòng ngừa rủi ro, kết hợp theo dõi các điểm nghẽn chiến lược như eo biển Hormuz; trung hạn tập trung đa dạng hóa nguồn nhập khẩu dầu và phát triển năng lượng tái tạo, nhiên liệu sinh học, thủy điện và điện Mặt Trời; dài hạn nhắm tới cải cách cấu trúc, giảm phụ thuộc vào dầu mỏ và nâng cao dự trữ nhiên liệu chiến lược. Ông Beni Sukadis đánh giá VN đang áp dụng chiến lược tương tự, kết hợp ổn định ngắn hạn bằng cơ chế điều hành giá và đa dạng hóa nguồn LNG, đồng thời thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo, điện gió ngoài khơi và điện hạt nhân giai đoạn 2030-2035 để đảm bảo nguồn điện nền ổn định. Sự kết hợp giữa điện nền và năng lượng tái tạo sẽ giúp VN cân bằng mục tiêu tăng trưởng nhanh với phát triển bền vững, chuyển từ tư duy “đảm bảo đủ năng lượng” sang “đảm bảo năng lượng an toàn, tự chủ và bền vững”, trong đó đa dạng hóa nguồn cung, dự trữ chiến lược và nâng cao năng lực nội tại là chìa khóa ứng phó với cú sốc năng lượng toàn cầu.
Điện hóa các ngành công nghiệp nhẹ có thể giảm tói 80% phát thải Co2
Theo nghiên cứu của WWF, Tập đoàn H&M và IKEA thực hiện nhấn mạnh rằng các công đoạn “xử lý ướt” trong ngành dệt may như sấy, nhuộm, định hình và giặt chiếm tới 75% tổng lượng phát thải, song có thể giảm từ 40-60% vào năm 2030 nếu áp dụng các công nghệ điện hóa như bơm nhiệt và nồi hơi điện. Việc thay thế lò hơi nhiên liệu hóa thạch không chỉ giúp cắt giảm khí nhà kính mà còn giảm 90-100% phát thải bụi mịn PM2.5 và NOx, đồng thời cải thiện an toàn lao động do không còn nhu cầu vận chuyển nhiên liệu. Các chuyên gia cho rằng những lợi ích này phù hợp chặt chẽ với các chính sách chuyển dịch năng lượng tổng thể của VN, bao gồm Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu đến năm 2050, Quy hoạch điện VIII (PDP8), Quan hệ đôi tác chuyển dịch năng lượng công bằng (JETP) và quá trình phát triển thị trường carbon quốc gia. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi vẫn đối mặt với nhiều thách thức như chi phí đầu tư ban đầu cao, hạn chế hạ tầng điện, rào cản kỹ thuật và thiếu chính sách hỗ trợ, trong khi hiệu quả kinh tế còn phụ thuộc vào giá điện và khả năng tiếp cận nguồn điện sạch.
Thực tế các mô hình thí điểm cho thấy điện hóa là khả thi, với những kết quả tích cực như nhà máy Bangjie thử nghiệm hệ thống bơm nhiệt ; tạo hơi thay thế than và sinh khối, hệ thống điện mặt trời mái nhà của Sợi Thế Kỷ đáp ứng khoảng 6% nhu cầu điện, hay trong ngành gỗ, Công ty CP Thắng Nam tiết kiệm 17% điện năng và nâng hiệu quả nhiệt 40-60%, qua đó cho thấy doanh nghiệp VN có thế thích ứng xu hướng sản xuất xanh và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng bền vững.
Thu ngân sách quý 1/2026 ước đạt 820 nghìn tỷ đồng
Theo báo cáo của Bộ Tài chính, lũy kế thu ngân sách nhà nước quý 1/2026 ước đạt 820 nghìn tỷ đồng, bằng 32,4% dự toán và tăng 10,2% so với cùng kỳ năm 2025. Điểm sáng lớn nhất là nguồn thu nội địa vói 738,6 nghìn tỷ đồng, hoàn thành 33,6% dự toán và tăng 12,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, thu từ 3 khu vực kinh tế (doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và kinh tế ngoài quốc doanh) đóng góp tới 407,9 nghìn tỷ đồng, hoàn thành 40% dự toán và tăng 25,8% so với cùng kỳ. Thu từ dầu thô quý I giảm mạnh 28,2% so với cùng kỳ, ước đạt 9,6 nghìn tỷ đồng do ảnh hưởng từ sự biến động giá dầu thế giới và sản lượng thanh toán giảm. Thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 71,8 nghìn tỷ đồng, hoàn thành 25,8% dự toán, xấp xỉ mức thực hiện của cùng kỳ năm 2025.
VCCI: Gỡ điểm nghẽn ở chất lượng quy định, sự chồng chéo và khâu thực thi
Theo Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), điểm nghẽn lớn hiện nay không phải thiếu luật mà nằm ở chất lượng quy định, sự chồng chéo và khâu thực thi. Doanh nghiệp cần một hệ thống pháp luật rõ ràng, ổn định, áp dụng thống nhất hơn là thêm luật mới. Tình trạng mâu thuẫn giữa các luật khiến doanh nghiệp phải tuân thủ nhiều quy định chồng lấn, vướng nhất ở “điểm giao” giữa các luật, tạo vòng lặp thủ tục. Vì vậy, VCCI đề xuất chuyển từ rà soát từng luật sang rà soát theo toàn bộ chuỗi hoạt động kinh doanh để nhận diện đúng nút thắt. Một bất cập lớn khác là pháp luật thay đổi nhanh, thiếu thời gian chuyển tiếp, làm tăng chi phí tuân thủ và rủi ro đầu tư. VCCI đề xuất rà soát toàn bộ điều kiện kinh doanh, đánh giá tính cần thiết và chi phí tuân thủ của từng loại, đồng thời nghiên cứu áp dụng nguyên tắc “one-in, one-out” - mỗi quy định mới ban hành phải đi kèm việc bãi bỏ một quy định cũ tương đương. Song song, cần xây dựng hệ thống hậu kiểm dựa trên quản lý rủi ro, kết hợp ứng dụng công nghệ dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo để nâng cao hiệu quả giám sát. Hiện nay, thời gian xử lý tranh chấp thương mại tại tòa án còn kéo dài, trong khi cơ chế phá sản gần như chưa phát huy hiệu quả. Số vụ phá sản được giải quyết còn rất thấp so vói quy mô doanh nghiệp đang hoạt động, khiến nguồn lực bị “mắc kẹt” trong các hoạt động kém hiệu quả.VCCI đề xuất rút ngắn thời gian xử lý tranh chấp xuống mức trung bình ASEAN-4 trước 2030, thành lập tòa chuyên trách thương mại, đồng thời thúc đẩy trọng tài, hòa giải và cải cách thủ tục phá sản. cần bổ sung nguyên tắc “thống nhất thị trường quốc gia”, tăng rà soát văn bản địa phương và xây dựng cơ sở dữ liệu công khai để doanh nghiệp tra cứu.
Doanh nghiệp xây dựng kiến nghị tháo gỡ điểm nghẽn
Một trong những vấn đề nổi cộm nhất mà các doanh nghiệp xây dựng đang phải đối mặt là sự biến động mạnh của giá nguyên vật liệu. Khảo sát cho thấy hơn một nửa doanh nghiệp (52,6%) kiến nghị cần có cơ chế bình ổn giá vật liệu xây dựng. Các loại vật liệu như cát san lấp, đá, thép... liên tục tăng giá tại nhiều khu vực, đặc biệt là những địa bàn có tốc độ đô thị hóa nhanh. Doanh nghiệp kiến nghị cần xây dựng cơ chế điều chỉnh giá linh hoạt hơn trong các hợp đồng xây dựng, đặc biệt là hợp đồng trọn gói hoặc đơn giá cố định. Việc cho phép cập nhật giá theo biến động thị trường sẽ giúp giảm thiểu rủi ro tài chính, bảo vệ dòng tiền và đảm bảo tiến độ dự án. vấn đề nhân lực không chỉ thiếu về số lượng, mà còn ở chất lượng và cơ cấu nhân lực. Doanh nghiệp kiến nghị cần có chính sách hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực mang tính hệ sinh thái, bao gồm đào tạo, giữ chân và nâng cao năng suất lao động.
Việt Nam thu thêm gần 72 triệu USD bán tín chỉ carbon
Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) cho biết Việt Nam (VN) sẽ thu thêm 71,96 triệu USD từ việc “bán không khí sạch” - tín chỉ carbon. Đây là lần thứ 2 VN thu được nguồn lợi lớn từ việc bán tín chỉ carbon. Các kết quả này đạt được nhờ việc giảm nạn phá rừng và suy thoái rừng, đồng thời gia tăng trữ lưọng cacbon rừng thông qua trồng rừng và phục hồi rừng tự nhiên. Nguồn tài chính từ dự án sẽ được sử dụng để tái đầu tư vào việc tăng cường các chính sách, thế chế và biện pháp thực thi liên quan đến rừng.
Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn vận hành tối đa, đảm bảo nguồn cung đến hết tháng 5/2026
Công ty TNHH Lọc hóa dầu Nghi Sơn (NSRP) cho biết, nhà máy đang duy trì vận hành ổn định ở công suất tối đa trong tháng 3 và đã thu xếp đủ nguồn dầu thô cần thiết để đảm bảo hoạt động liên tục đến hết tháng 5/2026, qua đó tối đa hóa sản lượng các sản phẩm xăng dầu nhằm đáp ứng nhu cầu trong nước. Với công suất chế biến theo thiết kế 200.000 thùng dầu thô mỗi ngày, tương đương 10 triệu tấn mỗi năm, Nhà máy hiện cung cấp khoảng 40% nhu cầu sản phẩm xăng dầu của VN.
Nhiều chuyên gia cho rằng Việt Nam (VN) đang đứng trước thời cơ lịch sử vàng đế bứt phá phát triển mạnh. Đây là giai đoạn quyết định để VN chuyển mình mạnh mẽ với cách mạng công nghiệp 4.0, số hóa, trí tuệ nhân tạo, tăng trưởng xanh và kinh tế tuần hoàn. Với quyết tâm cao, kiên trì tăng trưởng nhanh, bền vững và thực chất. VN có khả năng thoát bẫy thu nhập trung bình, vươn mình trở thành nền kinh tế thu nhập cao, thịnh vượng, hiện thực hóa khát vọng dân tộc hùng cường.
Xuất khẩu rau quả tiếp tục tăng tốc
Theo Hiệp hội rau quả VN (VINAFRUIT), tính sơ bộ đến ngày 20/3, giá trị xuất khẩu rau quả VN đạt gần 483 triệu USD, tăng hơn 37% so với tháng trước và tăng 1,2% so với cùng kỳ năm 2025. Tính chung 3 tháng đầu năm 2026, giá trị xuất khẩu đạt gần 1,48 tỷ USD, tăng 27% so với cùng kỳ năm ngoái, tương đương khoảng 500 triệu USD/tháng. Xét theo thị trường xuất khẩu, Trung Quốc tiếp tục là đối tác lớn nhất của rau quả VN, khi 2 tháng đầu năm 2026, giá trị xuất khẩu sang thị trường này đạt hơn 538 triệu USD, tăng 76% so với cùng kỳ và chiếm hơn 54% thị phần. Một số thị trường ghi nhận mức tăng trưởng mạnh như Malaysia tăng 197%, Đức tăng 183% và Hà Lan tăng 155%, phản ánh xu huớng mở rộng thị trường xuất khẩu ra ngoải châu Á.
Ngành thịt vướng nút thắt giết mổ, chế biến
Dù nguồn nguyên liệu dồi dào và sản lượng chăn nuôi liên tục tăng, ngành giết mổ và chế biến sản phẩm động vật tại VN vẫn bộc lộ nhiều bất cập. Hệ thống giết mổ nhỏ lẻ, thiếu kiểm soát; năng lực chế biến sâu hạn chế. Mặc dù số luợng doanh nghiệp và sản lượng có xu hướng tăng, nhưng tỷ lệ chế biến sâu vẫn còn thấp so với tiềm năng. Thị trường hiện nay chủ yếu tiêu thụ thịt mát, thịt đông lạnh và các sản phẩm truyền thống như giò, chả, xúc xích; các sản phẩm có giá trị gia tăng cao chưa phát triển tương xứng. Sự phân hóa công nghệ giữa các doanh nghiệp khá rõ rệt: chỉ khoảng 20% đạt trình độ tiên tiến, còn lại chủ yếu ở mức trung bình hoặc lạc hậu, đặc biệt là khu vực doanh nghiệp nhỏ và hộ sản xuất. Bên cạnh đó, hệ thống logistics lạnh còn thiếu và yếu. Vì vậy, cần chuyển mạnh từ mô hình giết mổ nhỏ lẻ sang tập trung, chuẩn hóa và có kiểm soát, phấn đấu đến năm 2030, tỷ lệ giết mổ công nghiệp đạt khoảng 70% đối với gia súc và 50% đối với gia cầm. Bên cạnh đó, cần phát triển hệ thống logistics lạnh, xây dựng vùng nguyên liệu an toàn dịch bệnh gắn với truy xuất nguồn gốc; nâng cao tính tự chủ về nguyên liệu, đa dạng hóa nguồn cung và tối ưu hóa chi phí logistics. Đặc biệt, cần thay đổi mô hình phát triển từ phân tán sang tập trung, từ sản lượng sang giá trị và từ ngắn hạn sang bền vững. Ngăn chặn lạm dụng kháng sinh trong chăn nuôi: cần chiến lược quản lý tổng thể.
Việc lạm dụng kháng sinh trong chăn nuôi cùng thực trạng xử lý chất thải chưa triệt để đang tạo ra “vòng xoáy nguy hiểm”, tiềm ẩn khả năng xuất hiện, lan rộng của vi khuẩn kháng thuốc. Không dừng lại ở vật nuôi, nguy cơ này tác động trực tiếp đến sức khỏe con người qua môi trường và thực phẩm, đặt ra yêu cầu cấp thiết về chiến lược quản lý tổng thế... Trước thực trạng trên, các chuyên gia nhận định, việc kiểm soát kháng sinh không thế dừng lại ở những giải pháp đơn lẻ, mà cần chiến lược tổng thể cấp quốc gia, với sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành. Cần đổi mới cách tiếp cận trong nghiên cứu và quản lý, chuyển từ các đề tài nhỏ lẻ sang tư duy theo chuỗi, theo chương trình lớn, gắn với nhu cầu thực tiễn của ngành và thị trường. Việc kiểm soát sử dụng kháng sinh, cải thiện điều kiện chăn nuôi và xử lý chất thải cần được triển khai đồng bộ với sự phối hợp liên ngành chặt chẽ.
Vụ gian lận dữ liệu quan trắc: Rủi ro đáng báo động
Vụ việc can thiệp dữ liệu tại các trạm trắc quan môi trường đang được dư luận đặc biệt quan tâm. Nhiều chuyên gia cho rằng đây là lỗ hổng nghiêm trọng trong công tác quản lý nhà nước về môi trường, xuất phát từ cơ chế thiếu chặt chẽ, bệnh thành tích và sự thiếu trách nhiệm của một số tổ chức, cá nhân. Cơ quan chức năng cần sớm công khai kết luận điều tra, các hành vi vi phạm, biện pháp xử lý nghiêm khắc. Một số chuyên gia kiến nghị cần xây dựng hệ thống giám sát độc lập, công khai dữ liệu quan trắc môi trường thời gian thực để các cơ quan nhà nước, nhà khoa học và nhân dân cùng tham gia giám sát; đồng thời tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, xây dựng cơ chế kiểm soát, giám sát chặt chẽ đế ngăn chặn các vụ việc tương tự.
Xuất khẩu qua cửa khẩu khỏi sắc, mở rộng dư địa tăng trưởng
Xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam (VN) ghi nhận đà tăng trưởng mạnh từ đầu năm 2026, với điểm sáng nổi bật tại các cửa khẩu biên giới. Trong kỳ 1 tháng 3 (1-15/3), kim ngạch xuất khẩu đạt 20,35 tỷ USD, tăng 98,1% so với kỳ trước; lũy kế từ đầu năm đến giữa tháng 3 đạt 96,8 tỷ USD, tăng 17,1% so với cùng kỳ 2025. Các cửa khẩu phía Bắc như Móng Cái và Lạng Sơn ghi nhận sự bứt phá mạnh, nhờ các cải cách trong thông quan, đặc biệt là việc thí điểm thông quan cuối tuần tại cầu Bắc Luân II giúp giảm ùn tắc, tiết kiệm chi phí logistics và tăng tính linh hoạt cho doanh nghiệp. Nhóm hàng công nghiệp chế biến, chế tạo, như điện tử, điện thoại, máy móc, tiếp tục đóng vai trò động lực chính cho tăng trưởng xuất khẩu. Chính phủ đã phê duyệt đề án xây dựng cửa khẩu thông minh tại Lào Cai (18/3/2026), ứng dụng các công nghệ như AI, IoT, Big Data và 5G nhằm hiện đại hóa quản lý và tăng tốc thông quan. Mục tiêu đến năm 2030 là tăng gấp đôi năng lực vận chuyển, giảm 20-30% chi phí logistics và hướng tới nhân rộng mô hình trên các tuyến biên giới khác.
Bứt phá thị trường nông nghiệp hữu cơ
Nông nghiệp hữu cơ tại VN dù có nhiều tiềm năng nhưng đang đối mặt vói hàng loạt rào cản lớn như quy mô sản xuất nhỏ lẻ, thiếu vùng nguyên liệu tập trung và nguồn cung không ổn định, khiến việc xây dựng chuỗi cung ứng và thị trường tiêu thụ gặp khó khăn. Bên cạnh đó, sự thiếu minh bạch và nhầm lẫn giữa sản phẩm “đạt chuẩn hữu cơ” và “theo hướng hữu cơ” làm suy giảm niềm tin người tiêu dùng. Thực tế cho thấy có những mô hình đạt chứng nhận nhưng vẫn tiêu thụ với giá thấp, trong khi một số khác thành công nhờ đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế và xây dựng được thị trường riêng. Ngoài ra, chi phí sản xuất cao, yêu cầu kỹ thuật khắt khe, khó khăn trong bảo quản, vận chuyển và tình trạng giả mạo sản phẩm hữu cơ cũng là những thách thức đáng kể. Dù thị trường toàn cầu mở ra nhiều cơ hội, ngành nông nghiệp hữu cơ VN cần giải quyết đồng thời ba vấn đề cốt lõi là chuẩn hóa tiêu chuẩn, tăng cường liên kết chuỗi và củng cố niềm tin người tiêu dùng, từ đó hướng tới phát triển bền vững và nâng cao giá trị nông sản.
Chuyên gia Indonesia khuyến nghị trụ cột bảo đảm an ninh năng lưọng cho Việt Nam
Trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông tiếp tục đẩy thị trương năng lượng toàn cầu vào trạng thái bất ổn, ông Beni Sukadis, Điều phối viên cao cấp của Viện Nghiên cứu quốc phòng và chiến lược Indonesia (LESPERSSI), khuyến nghị VN tham khảo cách tiếp cận “3 lớp” mà Indonesia đang triển khai để đảm bảo an ninh năng lượng trong bối cảnh thị trường toàn cầu bất ổn. Ở tầng ngắn hạn, lakarta ưu tiên ổn định nguồn cung và xây dựng các kịch bản phòng ngừa rủi ro, kết hợp theo dõi các điểm nghẽn chiến lược như eo biển Hormuz; trung hạn tập trung đa dạng hóa nguồn nhập khẩu dầu và phát triển năng lượng tái tạo, nhiên liệu sinh học, thủy điện và điện Mặt Trời; dài hạn nhắm tới cải cách cấu trúc, giảm phụ thuộc vào dầu mỏ và nâng cao dự trữ nhiên liệu chiến lược. Ông Beni Sukadis đánh giá VN đang áp dụng chiến lược tương tự, kết hợp ổn định ngắn hạn bằng cơ chế điều hành giá và đa dạng hóa nguồn LNG, đồng thời thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo, điện gió ngoài khơi và điện hạt nhân giai đoạn 2030-2035 để đảm bảo nguồn điện nền ổn định. Sự kết hợp giữa điện nền và năng lượng tái tạo sẽ giúp VN cân bằng mục tiêu tăng trưởng nhanh với phát triển bền vững, chuyển từ tư duy “đảm bảo đủ năng lượng” sang “đảm bảo năng lượng an toàn, tự chủ và bền vững”, trong đó đa dạng hóa nguồn cung, dự trữ chiến lược và nâng cao năng lực nội tại là chìa khóa ứng phó với cú sốc năng lượng toàn cầu.
Điện hóa các ngành công nghiệp nhẹ có thể giảm tói 80% phát thải Co2
Theo nghiên cứu của WWF, Tập đoàn H&M và IKEA thực hiện nhấn mạnh rằng các công đoạn “xử lý ướt” trong ngành dệt may như sấy, nhuộm, định hình và giặt chiếm tới 75% tổng lượng phát thải, song có thể giảm từ 40-60% vào năm 2030 nếu áp dụng các công nghệ điện hóa như bơm nhiệt và nồi hơi điện. Việc thay thế lò hơi nhiên liệu hóa thạch không chỉ giúp cắt giảm khí nhà kính mà còn giảm 90-100% phát thải bụi mịn PM2.5 và NOx, đồng thời cải thiện an toàn lao động do không còn nhu cầu vận chuyển nhiên liệu. Các chuyên gia cho rằng những lợi ích này phù hợp chặt chẽ với các chính sách chuyển dịch năng lượng tổng thể của VN, bao gồm Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu đến năm 2050, Quy hoạch điện VIII (PDP8), Quan hệ đôi tác chuyển dịch năng lượng công bằng (JETP) và quá trình phát triển thị trường carbon quốc gia. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi vẫn đối mặt với nhiều thách thức như chi phí đầu tư ban đầu cao, hạn chế hạ tầng điện, rào cản kỹ thuật và thiếu chính sách hỗ trợ, trong khi hiệu quả kinh tế còn phụ thuộc vào giá điện và khả năng tiếp cận nguồn điện sạch.
Thực tế các mô hình thí điểm cho thấy điện hóa là khả thi, với những kết quả tích cực như nhà máy Bangjie thử nghiệm hệ thống bơm nhiệt ; tạo hơi thay thế than và sinh khối, hệ thống điện mặt trời mái nhà của Sợi Thế Kỷ đáp ứng khoảng 6% nhu cầu điện, hay trong ngành gỗ, Công ty CP Thắng Nam tiết kiệm 17% điện năng và nâng hiệu quả nhiệt 40-60%, qua đó cho thấy doanh nghiệp VN có thế thích ứng xu hướng sản xuất xanh và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng bền vững.
Thu ngân sách quý 1/2026 ước đạt 820 nghìn tỷ đồng
Theo báo cáo của Bộ Tài chính, lũy kế thu ngân sách nhà nước quý 1/2026 ước đạt 820 nghìn tỷ đồng, bằng 32,4% dự toán và tăng 10,2% so với cùng kỳ năm 2025. Điểm sáng lớn nhất là nguồn thu nội địa vói 738,6 nghìn tỷ đồng, hoàn thành 33,6% dự toán và tăng 12,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, thu từ 3 khu vực kinh tế (doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và kinh tế ngoài quốc doanh) đóng góp tới 407,9 nghìn tỷ đồng, hoàn thành 40% dự toán và tăng 25,8% so với cùng kỳ. Thu từ dầu thô quý I giảm mạnh 28,2% so với cùng kỳ, ước đạt 9,6 nghìn tỷ đồng do ảnh hưởng từ sự biến động giá dầu thế giới và sản lượng thanh toán giảm. Thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 71,8 nghìn tỷ đồng, hoàn thành 25,8% dự toán, xấp xỉ mức thực hiện của cùng kỳ năm 2025.
VCCI: Gỡ điểm nghẽn ở chất lượng quy định, sự chồng chéo và khâu thực thi
Theo Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), điểm nghẽn lớn hiện nay không phải thiếu luật mà nằm ở chất lượng quy định, sự chồng chéo và khâu thực thi. Doanh nghiệp cần một hệ thống pháp luật rõ ràng, ổn định, áp dụng thống nhất hơn là thêm luật mới. Tình trạng mâu thuẫn giữa các luật khiến doanh nghiệp phải tuân thủ nhiều quy định chồng lấn, vướng nhất ở “điểm giao” giữa các luật, tạo vòng lặp thủ tục. Vì vậy, VCCI đề xuất chuyển từ rà soát từng luật sang rà soát theo toàn bộ chuỗi hoạt động kinh doanh để nhận diện đúng nút thắt. Một bất cập lớn khác là pháp luật thay đổi nhanh, thiếu thời gian chuyển tiếp, làm tăng chi phí tuân thủ và rủi ro đầu tư. VCCI đề xuất rà soát toàn bộ điều kiện kinh doanh, đánh giá tính cần thiết và chi phí tuân thủ của từng loại, đồng thời nghiên cứu áp dụng nguyên tắc “one-in, one-out” - mỗi quy định mới ban hành phải đi kèm việc bãi bỏ một quy định cũ tương đương. Song song, cần xây dựng hệ thống hậu kiểm dựa trên quản lý rủi ro, kết hợp ứng dụng công nghệ dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo để nâng cao hiệu quả giám sát. Hiện nay, thời gian xử lý tranh chấp thương mại tại tòa án còn kéo dài, trong khi cơ chế phá sản gần như chưa phát huy hiệu quả. Số vụ phá sản được giải quyết còn rất thấp so vói quy mô doanh nghiệp đang hoạt động, khiến nguồn lực bị “mắc kẹt” trong các hoạt động kém hiệu quả.VCCI đề xuất rút ngắn thời gian xử lý tranh chấp xuống mức trung bình ASEAN-4 trước 2030, thành lập tòa chuyên trách thương mại, đồng thời thúc đẩy trọng tài, hòa giải và cải cách thủ tục phá sản. cần bổ sung nguyên tắc “thống nhất thị trường quốc gia”, tăng rà soát văn bản địa phương và xây dựng cơ sở dữ liệu công khai để doanh nghiệp tra cứu.
Doanh nghiệp xây dựng kiến nghị tháo gỡ điểm nghẽn
Một trong những vấn đề nổi cộm nhất mà các doanh nghiệp xây dựng đang phải đối mặt là sự biến động mạnh của giá nguyên vật liệu. Khảo sát cho thấy hơn một nửa doanh nghiệp (52,6%) kiến nghị cần có cơ chế bình ổn giá vật liệu xây dựng. Các loại vật liệu như cát san lấp, đá, thép... liên tục tăng giá tại nhiều khu vực, đặc biệt là những địa bàn có tốc độ đô thị hóa nhanh. Doanh nghiệp kiến nghị cần xây dựng cơ chế điều chỉnh giá linh hoạt hơn trong các hợp đồng xây dựng, đặc biệt là hợp đồng trọn gói hoặc đơn giá cố định. Việc cho phép cập nhật giá theo biến động thị trường sẽ giúp giảm thiểu rủi ro tài chính, bảo vệ dòng tiền và đảm bảo tiến độ dự án. vấn đề nhân lực không chỉ thiếu về số lượng, mà còn ở chất lượng và cơ cấu nhân lực. Doanh nghiệp kiến nghị cần có chính sách hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực mang tính hệ sinh thái, bao gồm đào tạo, giữ chân và nâng cao năng suất lao động.
Việt Nam thu thêm gần 72 triệu USD bán tín chỉ carbon
Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) cho biết Việt Nam (VN) sẽ thu thêm 71,96 triệu USD từ việc “bán không khí sạch” - tín chỉ carbon. Đây là lần thứ 2 VN thu được nguồn lợi lớn từ việc bán tín chỉ carbon. Các kết quả này đạt được nhờ việc giảm nạn phá rừng và suy thoái rừng, đồng thời gia tăng trữ lưọng cacbon rừng thông qua trồng rừng và phục hồi rừng tự nhiên. Nguồn tài chính từ dự án sẽ được sử dụng để tái đầu tư vào việc tăng cường các chính sách, thế chế và biện pháp thực thi liên quan đến rừng.
Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn vận hành tối đa, đảm bảo nguồn cung đến hết tháng 5/2026
Công ty TNHH Lọc hóa dầu Nghi Sơn (NSRP) cho biết, nhà máy đang duy trì vận hành ổn định ở công suất tối đa trong tháng 3 và đã thu xếp đủ nguồn dầu thô cần thiết để đảm bảo hoạt động liên tục đến hết tháng 5/2026, qua đó tối đa hóa sản lượng các sản phẩm xăng dầu nhằm đáp ứng nhu cầu trong nước. Với công suất chế biến theo thiết kế 200.000 thùng dầu thô mỗi ngày, tương đương 10 triệu tấn mỗi năm, Nhà máy hiện cung cấp khoảng 40% nhu cầu sản phẩm xăng dầu của VN.
Nguồn: Cổng TTĐT Chính Phủ
Tin tức nổi bật khác
09 Tháng Tư 2026
Khoảnh khắc ý nghĩa của tập thể cán bộ viên chức, người lao động trong ngày sinh nhật QUATEST 3 tròn 50 năm (06/04/1976 – 06/04/2026)
09 Tháng Tư 2026
THÔNG TIN, BÁO CHÍ VÀ DƯ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG TÁC CHỈ ĐẠO, ĐIỀU HÀNH NGÀY 30/03-02/04/2026
08 Tháng Tư 2026
PGS.TS Vũ Hải Quân giữ chức Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ
07 Tháng Tư 2026
Góp ý dự thảo Luật Đo lường sửa đổi: Hướng tới quản lý hiện đại, minh bạch
07 Tháng Tư 2026
