Tổng hợp một số thông tin tích cực từ các Báo chí, dư luận liên quan đến công tác chỉ đạo, điều hành được cập nhật từ nguồn Cổng Thông tin Điện tử Chính Phủ
Tin mới:
Cần quản lý an toàn thực phẩm bằng công nghệ
Năm 2024 cả nước xảy ra 135 vụ ngộ độc thực phẩm làm chết 24 người. Còn năm 2025, xảy ra 74 vụ, 19 người tử vong. Đầu năm 2026 phát hiện sự việc tại Công ty CP Đồ hộp Hạ Long, số liệu tuy có giảm nhưng vụ việc lại rất nghiêm trọng và cần đặt ra cách kiểm soát khác mới có thể ngăn ngừa được thực phẩm bẩn lên bàn ăn người tiêu dùng. Với tốc độ phát triển kinh tế nhanh chóng như hiện nay, cơ sở sản xuất tăng nhanh, nhu cầu thị trường bùng nổ, lượng hàng hóa, nhất là thực phẩm, ngày càng dồi dào. Theo đó, ngoài việc quản lý của các cơ quan chuyên ngành thì quan trọng nhất vẫn là vai trò của cơ sở, đây là đơn vị nắm rõ nhất tình hình sản xuất tại địa phương và sớm có cảnh báo thích hợp. Việc truy trách nhiệm các cơ quan quản lý cần thực hiện triệt để vì đây là khâu chốt chặn và có thẩm quyền kiểm tra, ngăn chặn bất cứ sản phẩm nào nghi ngờ không bảo đảm an toàn. Chốt chặn này lơi lỏng thì thực phẩm bẩn sẽ tiếp cận ngay người tiêu dùng. Cách tốt nhất mà các quốc gia khác đang làm hiệu quả chính là áp dụng công nghệ vào quản lý. Mọi cơ sở sản xuất dù chăn nuôi hay trồng trọt đều phải đăng ký và cấp mã định danh. Những khu vực sản xuất nhỏ lẻ sẽ được quản lý theo mã vùng. Khi một vấn đề phát sinh, cơ quan quản lý sẽ nhanh chóng tìm ra nguồn gốc, đường đi của sản phẩm và nhanh chóng có biện pháp xử lý. Truy được nguồn gốc mới có được cảnh báo và xử lý triệt để vi phạm. Những vi phạm về an toàn thực phẩm sẽ bị xử lý nặng và thường là đóng cửa và lưu hồ sơ để theo dõi. Cách làm này không khó thực hiện ở Việt Nam, khi mà chúng ta đã có nền tảng số ngày càng được nâng cao và chặt chẽ.
Cần hướng dẫn, hỗ trợ người dân trong kiểm định khí thải xe máy
Lần đầu tiên, xe mô tô, xe gắn máy đang tham gia giao thông sẽ phải thực hiện kiểm định khí thải theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, thay vì chỉ áp dụng đối với các phương tiện mới xuất xưởng như trước đây. Quy chuẩn vừa được Bộ NN&MT ban hành, có hiệu lực từ ngày 30/6/2026, với bốn mức giới hạn khí thải, tập trung kiểm soát hai thông số chính là Hydrocacbon (HC) và Cacbon Monoxit (CO). Thông tin này trở nên đặc biệt đáng chú ý trong bối cảnh cả nước hiện có hơn 70 triệu xe máy đang lưu hành, phương tiện gắn bó mật thiết với sinh kế, thói quen đi lại hàng ngày của hàng chục triệu người dân. Ở góc độ pháp lý, người dân có trách nhiệm tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường, trong đó có yêu cầu kiểm soát khí thải phương tiện giao thông. Tuy nhiên, đi cùng với nghĩa vụ là quyền được tiếp cận đầy đủ thông tin và hướng dẫn cụ thể. Nhiều người dân bày tỏ sẵn sàng tuân thủ nếu có hướng dẫn cụ thể, lộ trình phù hợp và các hỗ trợ cần thiết. Bởi mục tiêu cuối cùng vẫn là cải thiện chất lượng môi trường sống, nhưng phải gắn với điều kiện thực tế, để chính sách đi vào đời sống mà không tạo thêm áp lực cho sinh hoạt hàng ngày.
Hàn Quốc phát triển công nghệ loại bỏ nhựa nano khỏi nước chỉ trong 10 phút
Các nhà khoa học Hàn Quốc vừa công bố một phương pháp xử lý nước mới có thể loại bỏ hơn 95% vi nhựa và nhựa nano chỉ trong vòng 10 phút nhờ ứng dụng hạt nano từ tính dạng phiến. Công nghệ này được kỳ vọng sẽ mở ra hướng tiếp cận hiệu quả cho xử lý nước sinh hoạt, nước thải và làm sạch môi trường... Đại học Quốc gia Pusan (Pusan National University) công bố nhóm nghiên cứu của trường đã phát triển thành công một quy trình xử lý nước có khả năng loại bỏ các hạt nhựa siêu nhỏ bằng cách sử dụng từ trường để kéo chúng kết tụ lại vói nhau. Nghiên cứu cũng mô tả đầy đủ lộ trình phát triển công nghệ, từ khâu thiết kế vật liệu nano, tổng hợp ở quy mô lớn cho đến cơ chế loại bỏ nhựa trong môi trường nước.
Nhiều thách thức trong đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc
Mặc dù truy xuất nguồn gốc đã trở thành yêu cầu hiện hữu, song theo các chuyên gia, việc đáp ứng các chuẩn mực ngày càng khắt khe này đang đặt DN Việt trước không ít thách thức. Trước hết là chi phí đầu tư ban đầu cho hệ thống truy xuất nguồn gốc. Với nhiều DN, đặc biệt là DN nhỏ và vừa, chi phí đầu tư có thể lên tới hàng tỷ đồng, trong khi biên lợi nhuận xuất khẩu ngày càng bị thu hẹp, tạo áp lực tài chính lớn trong ngắn hạn. Bên cạnh đó, cấu trúc chuỗi cung ứng phụ thuộc lớn vào sản xuất nhỏ lẻ, phân tán cũng làm gia tăng độ khó của truy xuất nguồn gốc, nhất là trong các ngành nông sản và thủy sản. Ngoài ra, sự phụ thuộc lớn vào nguyên phụ liệu nhập khẩu, đặc biệt trong ngành dệt may và da giày, đang làm bài toán truy xuất nguồn gốc trở nên phức tạp hơn. Trước áp lực gia tăng, các chuyên gia cho rằng giải pháp then chốt là DN cần tái cấu trúc chuỗi cung ứng theo hướng minh bạch và liên kết chặt chẽ hơn. Đối với những ngành phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu phân tán, DN cần đóng vai trò “nhạc trưởng”, chủ động tham gia tổ chức vùng nguyên liệu, ký kết hợp đồng liên kết dài hạn với nông dân, ngư dân và các cơ sở thu mua. ứng dụng công nghệ số được xem là giải pháp mang tính đột phá nhằm giảm chi phí và nâng cao hiệu quả truy xuất. Ở góc độ chính sách, việc hoàn thiện khung pháp lý và xây dựng hạ tầng truy xuất nguồn gốc quốc gia với các nền tảng dùng chung được xem là yếu tố then chốt.
Để sầu riêng Việt Nam “chiến thắng” sầu riêng Thái Lan
Năm 2025, xuất khẩu sầu riêng dự kiến mang về hơn 4 tỷ USD, giúp VN bám đuổi sát nút Thái Lan về thị phần tại Trung Quốc. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo đằng sau con số ấn tượng này là bài toán cấp thiết về chuẩn hóa chất lượng đế giữ vững vị thế tỷ đô. Để giữ vững đà tăng trưởng và khẳng định vị thế bền vững, yếu tố then chốt vẫn là chất lượng ổn định, truy xuất nguồn gốc minh bạch và tổ chức sản xuất theo chuỗi liên kết bài bản. Ở góc độ quản lý ngành hàng, ông Lê Anh Trung, Chủ tịch Hiệp hội Sầu riêng tỉnh Đắk Lắk, nhận định tốc độ tăng trưởng nhanh của ngành sâu riêng VN đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với công tác tổ chức sản xuất theo hướng chuyên nghiệp, đồng bộ và có liên kết chặt chẽ. Do đặc thù lịch sử phát triển nông nghiệp hộ nhỏ lẻ, việc tổ chức sản xuất theo chuỗi liên kết đang trong quá trình chuyển đối và cần thêm thời gian đế hoàn thiện trên diện rộng. Chính vì vậy, việc xây dựng chuỗi từ DN xuất khẩu đến hợp tác xã và nông dân được xem là giải pháp trọng tâm trong giai đoạn tới. Ở góc độ DN, ông Nguyễn Đình Tùng, Chủ tịch Công ty Vina T&T cho rằng, sầu riêng VN đang có lợi thế rõ rệt về mùa vụ linh hoạt, chất lượng ngày càng cải thiện và khả năng đáp ứng nhanh nhu cầu thị trường. Tuy nhiên, để giữ vững và mở rộng thị phần tại Trung Quốc, điều quan trọng nhất vẫn là ổn định vùng trồng đạt chuẩn, quản lý chặt mã số, kiểm soát chất lượng đồng đều và hạn chế làm ăn chụp giật. Nhà nước cần tiếp tục hỗ trợ nông dân về kỹ thuật, tín dụng dài hạn và thúc đẩy liên kết chặt chẽ với DN xuất khẩu để xây dựng chuỗi giá trị bền vững cho ngành sầu riêng VN.
Để thực phẩm bẩn không còn “lọt lưới”
Theo Đại biểu Quốc hội Nguyễn Tâm Hùng, trong bối cảnh thực phẩm chế biến sẵn đang hiện diện trong từng bữa ăn gia đình, việc thiết lập một hệ thống phòng thủ đa tầng để lập thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý triệt để vi phạm đã trở thành yêu cầu hết sức cấp thiết. Để thực phẩm bẩn không còn cơ hội "lọt lưới", hệ thống quản lý phải chuyển mạnh mẽ từ "hậu kiểm" sang "tiền kiểm" và giám sát thời gian thực. Phải số hóa toàn chuỗi cung ứng, bắt buộc mọi lon đồ hộp lưu thông trên thị trường phải có mã định danh duy nhất cho từng sản phẩm; người tiêu dùng có quyền và có khả năng truy xuất tận gốc: từ nông trại giết mổ, danh tính kiểm dịch viên, cho đến ngày nhập kho. Phải thiết lập hệ thống camera giám sát trực tuyến tại cơ sở sản xuất, quy định các khu vực tiếp nhận nguyên liệu và chế biến phải lắp đặt camera kết nối với cơ quan quản lý thị trường và vệ sinh an toàn thực phẩm địa phương. Mặt khác, ngăn chặn thực phẩm bẩn từ gốc là giải pháp bảo vệ sức khỏe người dân hiệu quả và ít tốn kém nhất. Cần chuẩn hóa nguồn nguyên liệu đầu vào: các DN đồ hộp phải có trách nhiệm pháp lý trong việc ký kết họp đồng trực tiếp với các trang trại đạt chuẩn hoặc các lò mổ tập trung được Nhà nước cấp phép; tuyệt đối cấm việc thu mua thịt trôi nổi qua các thương lái trung gian không có pháp nhân và không có hệ thống kho lạnh đạt chuấn. Tiệm cận tiêu chuẩn quốc tế: nâng ngưỡng tiêu chuẩn an toàn thực phẩm đối với ngành đồ hộp lên tương đương với tiêu chuẩn xuất khẩu sang EU hay Nhật Bản. Nếu không đạt chứng chỉ quản lý rủi ro, DN tuyệt đối không được phép hoạt động trong ngành chế biến sẵn. Tăng cường tần suất kiểm tra đột xuất, thay đổi tư duy kiểm tra có báo trước. Cùng với đó, hình phạt phải đủ mạnh để DN thấy rằng cái giá phải trả cho việc làm sai lớn hơn gấp nhiều lần lợi nhuận thu được từ việc dùng thịt bẩn.
Nhiều thách thức trong đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc
Mặc dù truy xuất nguồn gốc đã trở thành yêu cầu hiện hữu, song theo các chuyên gia, việc đáp ứng các chuẩn mực ngày càng khắt khe này đang đặt DN Việt trước không ít thách thức. Trước hết là chi phí đầu tư ban đầu cho hệ thống truy xuất nguồn gốc. Với nhiều DN, đặc biệt là DN nhỏ và vừa, chi phí đầu tư có thể lên tới hàng tỷ đồng, trong khi biên lợi nhuận xuất khẩu ngày càng bị thu hẹp, tạo áp lực tài chính lớn trong ngắn hạn. Bên cạnh đó, cấu trúc chuỗi cung ứng phụ thuộc lớn vào sản xuất nhỏ lẻ, phân tán cũng làm gia tăng độ khó của truy xuất nguồn gốc, nhất là trong các ngành nông sản và thủy sản. Ngoài ra, sự phụ thuộc lớn vào nguyên phụ liệu nhập khẩu, đặc biệt trong ngành dệt may và da giày, đang làm bài toán truy xuất nguồn gốc trở nên phức tạp hơn. Trước áp lực gia tăng, các chuyên gia cho rằng giải pháp then chốt là DN cần tái cấu trúc chuỗi cung ứng theo hướng minh bạch và liên kết chặt chẽ hơn. Đối với nhũng ngành phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu phân tán, DN cần đóng vai trò “nhạc trưởng”, chủ động tham gia tổ chức vùng nguyên liệu, ký kết hợp đồng liên kết dài hạn với nông dân, ngư dân và các cơ sở thu mua. ứng dụng công nghệ số được xem là giải pháp mang tính đột phá nhằm giảm chi phí và nâng cao hiệu quả truy xuất. Ở góc độ chính sách, việc hoàn thiện khung pháp lý và xây dựng hạ tầng truy xuất nguồn gốc quốc gia với các nền tảng dùng chung được xem là yếu tố then chốt.
Đề xuất làm kho khí thiên nhiên hóa lỏng gần 4.000 tỷ đồng ở Dung Quất
Tại cuộc họp với UBND Quảng Ngãi chiều 15/11, Ban Quản lý Khu Kinh tế Dung Quất cho biết dự án dự kiến triển khai ở Khu công nghiệp phía đông, thuộc xã Vạn Tường, diện tích 19 ha, công suất khoảng 1,2 triệu tấn LNG (khí thiên nhiên hóa lỏng) mỗi năm, gồm giai đoạn cấp khí nhanh với công suất 0,5 triệu tấn LNG một năm và giai đoạn 1 bổ sung thêm khoảng 0,7 triệu tấn LNG mỗi năm. Dự án do Công ty Cổ phần Năng lượng Vạn Tường (đon vị do công ty Hải Linh thành lập) đề xuất với tổng vốn đầu tư kho khoảng 3.769 tỷ đồng, thời gian hoạt động 50 năm kể từ ngày được Nhà nước giao, cho thuê đất. Dự kiến, công ty này sẽ đầu tư tuyến ống dẫn khí từ cảng vào kho chứa và từ kho chứa đến các hộ tiêu thụ, nhằm cung ứng nguồn nhiên liệu sạch, an toàn, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, đáp ứng nhu cầu khí LNG cho các dự án ở Khu kinh tế Dung Quất và các Khu công nghiệp Quảng Ngãi. Ngoài khí thiên nhiên và khí hóa lỏng, nhà đầu tư sẽ dùng khí LNG sản xuất điện thương mại và hơi nước (dùng trong sản xuất công nghiệp).
Năm 2024 cả nước xảy ra 135 vụ ngộ độc thực phẩm làm chết 24 người. Còn năm 2025, xảy ra 74 vụ, 19 người tử vong. Đầu năm 2026 phát hiện sự việc tại Công ty CP Đồ hộp Hạ Long, số liệu tuy có giảm nhưng vụ việc lại rất nghiêm trọng và cần đặt ra cách kiểm soát khác mới có thể ngăn ngừa được thực phẩm bẩn lên bàn ăn người tiêu dùng. Với tốc độ phát triển kinh tế nhanh chóng như hiện nay, cơ sở sản xuất tăng nhanh, nhu cầu thị trường bùng nổ, lượng hàng hóa, nhất là thực phẩm, ngày càng dồi dào. Theo đó, ngoài việc quản lý của các cơ quan chuyên ngành thì quan trọng nhất vẫn là vai trò của cơ sở, đây là đơn vị nắm rõ nhất tình hình sản xuất tại địa phương và sớm có cảnh báo thích hợp. Việc truy trách nhiệm các cơ quan quản lý cần thực hiện triệt để vì đây là khâu chốt chặn và có thẩm quyền kiểm tra, ngăn chặn bất cứ sản phẩm nào nghi ngờ không bảo đảm an toàn. Chốt chặn này lơi lỏng thì thực phẩm bẩn sẽ tiếp cận ngay người tiêu dùng. Cách tốt nhất mà các quốc gia khác đang làm hiệu quả chính là áp dụng công nghệ vào quản lý. Mọi cơ sở sản xuất dù chăn nuôi hay trồng trọt đều phải đăng ký và cấp mã định danh. Những khu vực sản xuất nhỏ lẻ sẽ được quản lý theo mã vùng. Khi một vấn đề phát sinh, cơ quan quản lý sẽ nhanh chóng tìm ra nguồn gốc, đường đi của sản phẩm và nhanh chóng có biện pháp xử lý. Truy được nguồn gốc mới có được cảnh báo và xử lý triệt để vi phạm. Những vi phạm về an toàn thực phẩm sẽ bị xử lý nặng và thường là đóng cửa và lưu hồ sơ để theo dõi. Cách làm này không khó thực hiện ở Việt Nam, khi mà chúng ta đã có nền tảng số ngày càng được nâng cao và chặt chẽ.
Cần hướng dẫn, hỗ trợ người dân trong kiểm định khí thải xe máy
Lần đầu tiên, xe mô tô, xe gắn máy đang tham gia giao thông sẽ phải thực hiện kiểm định khí thải theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, thay vì chỉ áp dụng đối với các phương tiện mới xuất xưởng như trước đây. Quy chuẩn vừa được Bộ NN&MT ban hành, có hiệu lực từ ngày 30/6/2026, với bốn mức giới hạn khí thải, tập trung kiểm soát hai thông số chính là Hydrocacbon (HC) và Cacbon Monoxit (CO). Thông tin này trở nên đặc biệt đáng chú ý trong bối cảnh cả nước hiện có hơn 70 triệu xe máy đang lưu hành, phương tiện gắn bó mật thiết với sinh kế, thói quen đi lại hàng ngày của hàng chục triệu người dân. Ở góc độ pháp lý, người dân có trách nhiệm tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường, trong đó có yêu cầu kiểm soát khí thải phương tiện giao thông. Tuy nhiên, đi cùng với nghĩa vụ là quyền được tiếp cận đầy đủ thông tin và hướng dẫn cụ thể. Nhiều người dân bày tỏ sẵn sàng tuân thủ nếu có hướng dẫn cụ thể, lộ trình phù hợp và các hỗ trợ cần thiết. Bởi mục tiêu cuối cùng vẫn là cải thiện chất lượng môi trường sống, nhưng phải gắn với điều kiện thực tế, để chính sách đi vào đời sống mà không tạo thêm áp lực cho sinh hoạt hàng ngày.
Hàn Quốc phát triển công nghệ loại bỏ nhựa nano khỏi nước chỉ trong 10 phút
Các nhà khoa học Hàn Quốc vừa công bố một phương pháp xử lý nước mới có thể loại bỏ hơn 95% vi nhựa và nhựa nano chỉ trong vòng 10 phút nhờ ứng dụng hạt nano từ tính dạng phiến. Công nghệ này được kỳ vọng sẽ mở ra hướng tiếp cận hiệu quả cho xử lý nước sinh hoạt, nước thải và làm sạch môi trường... Đại học Quốc gia Pusan (Pusan National University) công bố nhóm nghiên cứu của trường đã phát triển thành công một quy trình xử lý nước có khả năng loại bỏ các hạt nhựa siêu nhỏ bằng cách sử dụng từ trường để kéo chúng kết tụ lại vói nhau. Nghiên cứu cũng mô tả đầy đủ lộ trình phát triển công nghệ, từ khâu thiết kế vật liệu nano, tổng hợp ở quy mô lớn cho đến cơ chế loại bỏ nhựa trong môi trường nước.
Nhiều thách thức trong đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc
Mặc dù truy xuất nguồn gốc đã trở thành yêu cầu hiện hữu, song theo các chuyên gia, việc đáp ứng các chuẩn mực ngày càng khắt khe này đang đặt DN Việt trước không ít thách thức. Trước hết là chi phí đầu tư ban đầu cho hệ thống truy xuất nguồn gốc. Với nhiều DN, đặc biệt là DN nhỏ và vừa, chi phí đầu tư có thể lên tới hàng tỷ đồng, trong khi biên lợi nhuận xuất khẩu ngày càng bị thu hẹp, tạo áp lực tài chính lớn trong ngắn hạn. Bên cạnh đó, cấu trúc chuỗi cung ứng phụ thuộc lớn vào sản xuất nhỏ lẻ, phân tán cũng làm gia tăng độ khó của truy xuất nguồn gốc, nhất là trong các ngành nông sản và thủy sản. Ngoài ra, sự phụ thuộc lớn vào nguyên phụ liệu nhập khẩu, đặc biệt trong ngành dệt may và da giày, đang làm bài toán truy xuất nguồn gốc trở nên phức tạp hơn. Trước áp lực gia tăng, các chuyên gia cho rằng giải pháp then chốt là DN cần tái cấu trúc chuỗi cung ứng theo hướng minh bạch và liên kết chặt chẽ hơn. Đối với những ngành phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu phân tán, DN cần đóng vai trò “nhạc trưởng”, chủ động tham gia tổ chức vùng nguyên liệu, ký kết hợp đồng liên kết dài hạn với nông dân, ngư dân và các cơ sở thu mua. ứng dụng công nghệ số được xem là giải pháp mang tính đột phá nhằm giảm chi phí và nâng cao hiệu quả truy xuất. Ở góc độ chính sách, việc hoàn thiện khung pháp lý và xây dựng hạ tầng truy xuất nguồn gốc quốc gia với các nền tảng dùng chung được xem là yếu tố then chốt.
Để sầu riêng Việt Nam “chiến thắng” sầu riêng Thái Lan
Năm 2025, xuất khẩu sầu riêng dự kiến mang về hơn 4 tỷ USD, giúp VN bám đuổi sát nút Thái Lan về thị phần tại Trung Quốc. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo đằng sau con số ấn tượng này là bài toán cấp thiết về chuẩn hóa chất lượng đế giữ vững vị thế tỷ đô. Để giữ vững đà tăng trưởng và khẳng định vị thế bền vững, yếu tố then chốt vẫn là chất lượng ổn định, truy xuất nguồn gốc minh bạch và tổ chức sản xuất theo chuỗi liên kết bài bản. Ở góc độ quản lý ngành hàng, ông Lê Anh Trung, Chủ tịch Hiệp hội Sầu riêng tỉnh Đắk Lắk, nhận định tốc độ tăng trưởng nhanh của ngành sâu riêng VN đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với công tác tổ chức sản xuất theo hướng chuyên nghiệp, đồng bộ và có liên kết chặt chẽ. Do đặc thù lịch sử phát triển nông nghiệp hộ nhỏ lẻ, việc tổ chức sản xuất theo chuỗi liên kết đang trong quá trình chuyển đối và cần thêm thời gian đế hoàn thiện trên diện rộng. Chính vì vậy, việc xây dựng chuỗi từ DN xuất khẩu đến hợp tác xã và nông dân được xem là giải pháp trọng tâm trong giai đoạn tới. Ở góc độ DN, ông Nguyễn Đình Tùng, Chủ tịch Công ty Vina T&T cho rằng, sầu riêng VN đang có lợi thế rõ rệt về mùa vụ linh hoạt, chất lượng ngày càng cải thiện và khả năng đáp ứng nhanh nhu cầu thị trường. Tuy nhiên, để giữ vững và mở rộng thị phần tại Trung Quốc, điều quan trọng nhất vẫn là ổn định vùng trồng đạt chuẩn, quản lý chặt mã số, kiểm soát chất lượng đồng đều và hạn chế làm ăn chụp giật. Nhà nước cần tiếp tục hỗ trợ nông dân về kỹ thuật, tín dụng dài hạn và thúc đẩy liên kết chặt chẽ với DN xuất khẩu để xây dựng chuỗi giá trị bền vững cho ngành sầu riêng VN.
Để thực phẩm bẩn không còn “lọt lưới”
Theo Đại biểu Quốc hội Nguyễn Tâm Hùng, trong bối cảnh thực phẩm chế biến sẵn đang hiện diện trong từng bữa ăn gia đình, việc thiết lập một hệ thống phòng thủ đa tầng để lập thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý triệt để vi phạm đã trở thành yêu cầu hết sức cấp thiết. Để thực phẩm bẩn không còn cơ hội "lọt lưới", hệ thống quản lý phải chuyển mạnh mẽ từ "hậu kiểm" sang "tiền kiểm" và giám sát thời gian thực. Phải số hóa toàn chuỗi cung ứng, bắt buộc mọi lon đồ hộp lưu thông trên thị trường phải có mã định danh duy nhất cho từng sản phẩm; người tiêu dùng có quyền và có khả năng truy xuất tận gốc: từ nông trại giết mổ, danh tính kiểm dịch viên, cho đến ngày nhập kho. Phải thiết lập hệ thống camera giám sát trực tuyến tại cơ sở sản xuất, quy định các khu vực tiếp nhận nguyên liệu và chế biến phải lắp đặt camera kết nối với cơ quan quản lý thị trường và vệ sinh an toàn thực phẩm địa phương. Mặt khác, ngăn chặn thực phẩm bẩn từ gốc là giải pháp bảo vệ sức khỏe người dân hiệu quả và ít tốn kém nhất. Cần chuẩn hóa nguồn nguyên liệu đầu vào: các DN đồ hộp phải có trách nhiệm pháp lý trong việc ký kết họp đồng trực tiếp với các trang trại đạt chuẩn hoặc các lò mổ tập trung được Nhà nước cấp phép; tuyệt đối cấm việc thu mua thịt trôi nổi qua các thương lái trung gian không có pháp nhân và không có hệ thống kho lạnh đạt chuấn. Tiệm cận tiêu chuẩn quốc tế: nâng ngưỡng tiêu chuẩn an toàn thực phẩm đối với ngành đồ hộp lên tương đương với tiêu chuẩn xuất khẩu sang EU hay Nhật Bản. Nếu không đạt chứng chỉ quản lý rủi ro, DN tuyệt đối không được phép hoạt động trong ngành chế biến sẵn. Tăng cường tần suất kiểm tra đột xuất, thay đổi tư duy kiểm tra có báo trước. Cùng với đó, hình phạt phải đủ mạnh để DN thấy rằng cái giá phải trả cho việc làm sai lớn hơn gấp nhiều lần lợi nhuận thu được từ việc dùng thịt bẩn.
Nhiều thách thức trong đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc
Mặc dù truy xuất nguồn gốc đã trở thành yêu cầu hiện hữu, song theo các chuyên gia, việc đáp ứng các chuẩn mực ngày càng khắt khe này đang đặt DN Việt trước không ít thách thức. Trước hết là chi phí đầu tư ban đầu cho hệ thống truy xuất nguồn gốc. Với nhiều DN, đặc biệt là DN nhỏ và vừa, chi phí đầu tư có thể lên tới hàng tỷ đồng, trong khi biên lợi nhuận xuất khẩu ngày càng bị thu hẹp, tạo áp lực tài chính lớn trong ngắn hạn. Bên cạnh đó, cấu trúc chuỗi cung ứng phụ thuộc lớn vào sản xuất nhỏ lẻ, phân tán cũng làm gia tăng độ khó của truy xuất nguồn gốc, nhất là trong các ngành nông sản và thủy sản. Ngoài ra, sự phụ thuộc lớn vào nguyên phụ liệu nhập khẩu, đặc biệt trong ngành dệt may và da giày, đang làm bài toán truy xuất nguồn gốc trở nên phức tạp hơn. Trước áp lực gia tăng, các chuyên gia cho rằng giải pháp then chốt là DN cần tái cấu trúc chuỗi cung ứng theo hướng minh bạch và liên kết chặt chẽ hơn. Đối với nhũng ngành phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu phân tán, DN cần đóng vai trò “nhạc trưởng”, chủ động tham gia tổ chức vùng nguyên liệu, ký kết hợp đồng liên kết dài hạn với nông dân, ngư dân và các cơ sở thu mua. ứng dụng công nghệ số được xem là giải pháp mang tính đột phá nhằm giảm chi phí và nâng cao hiệu quả truy xuất. Ở góc độ chính sách, việc hoàn thiện khung pháp lý và xây dựng hạ tầng truy xuất nguồn gốc quốc gia với các nền tảng dùng chung được xem là yếu tố then chốt.
Đề xuất làm kho khí thiên nhiên hóa lỏng gần 4.000 tỷ đồng ở Dung Quất
Tại cuộc họp với UBND Quảng Ngãi chiều 15/11, Ban Quản lý Khu Kinh tế Dung Quất cho biết dự án dự kiến triển khai ở Khu công nghiệp phía đông, thuộc xã Vạn Tường, diện tích 19 ha, công suất khoảng 1,2 triệu tấn LNG (khí thiên nhiên hóa lỏng) mỗi năm, gồm giai đoạn cấp khí nhanh với công suất 0,5 triệu tấn LNG một năm và giai đoạn 1 bổ sung thêm khoảng 0,7 triệu tấn LNG mỗi năm. Dự án do Công ty Cổ phần Năng lượng Vạn Tường (đon vị do công ty Hải Linh thành lập) đề xuất với tổng vốn đầu tư kho khoảng 3.769 tỷ đồng, thời gian hoạt động 50 năm kể từ ngày được Nhà nước giao, cho thuê đất. Dự kiến, công ty này sẽ đầu tư tuyến ống dẫn khí từ cảng vào kho chứa và từ kho chứa đến các hộ tiêu thụ, nhằm cung ứng nguồn nhiên liệu sạch, an toàn, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, đáp ứng nhu cầu khí LNG cho các dự án ở Khu kinh tế Dung Quất và các Khu công nghiệp Quảng Ngãi. Ngoài khí thiên nhiên và khí hóa lỏng, nhà đầu tư sẽ dùng khí LNG sản xuất điện thương mại và hơi nước (dùng trong sản xuất công nghiệp).
Nguồn: Cổng TTĐT Chính Phủ
Tin tức nổi bật khác
30 Tháng Giêng 2026
THÔNG TIN, BÁO CHÍ VÀ DƯ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG TÁC CHỈ ĐẠO, ĐIỀU HÀNH NGÀY 18,19&20,21.01
30 Tháng Giêng 2026
THÔNG TIN, BÁO CHÍ VÀ DƯ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG TÁC CHỈ ĐẠO, ĐIỀU HÀNH NGÀY 14,15, 16&17.01.2026
30 Tháng Giêng 2026
THÔNG TIN, BÁO CHÍ VÀ DƯ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG TÁC CHỈ ĐẠO, ĐIỀU HÀNH NGÀY 12&13.01.2026
30 Tháng Giêng 2026
Tháng 1/2026: Ngành KHCN đóng góp hơn 124 nghìn tỷ đồng cho tăng trưởng GDP
30 Tháng Giêng 2026
